Phê duyệt điều ước quốc tế là xác nhận về sự nhất trí ràng buộc với. điều ước quốc tế đã được kí kết. Về bản chất, phê duyệt và phê chuẩn điều ước quốc tế giống nhau ở chỗ chúng đều là sự đồng ý của quốc gia với điều ước.
Mục lục bài viết
1. Quy định chung về phê chuẩn điều ước
Phê chuẩn điều ước và phê duyệt điều ước chỉ khác nhau Ở thẩm quyền. Cụ thể, nếu phê chuẩn điều ước thường do cơ quan lập pháp thực hiện thì phê duyệt điều ước lại thường thuộc thẩm quyền của cơ quan hành pháp cao nhất.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế phải được phê duyệt là những điều ước được kí kết với danh nghĩa Chính phủ hoặc với danh nghĩa cơ quan bộ trong đó có điều khoản quy định việc phê duyệt hoặc có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt điều ước quốc tế ở Việt Nam là Chính phủ.
2. Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
2.1 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong quá trình ký kết điều ước quốc tế
Ký kết điều ước quốc tế là loại hình hoạt động pháp lý thuộc quá trình xây dựng luật quốc tế. Do đặc điểm cơ bân của luật quốc tế là không có các cơ quan lập pháp chuyên trách nên quá trình xây dựng luật quốc tế luôn được tiến hành bởi chính các chủ thể luật quốc tế. Đặc điểm này tác động đêh quá trình ký kết điều ước quốc tế theo hướng việc ký kết điều ước sẽ hoàn toàn dựa trên cơ sở ý chỉ tự nguyện của các thành viên. Sự tự nguyện và bình đẳng trong các quan hệ điều ước ưở thành một trong những căn cứ để đánh gỉá tính hợp pháp của điều ước quốc tế. Theo nguyên tắc này, những điều ước được ký kết mà có sự lừa dối, có sử dụng vũ lực hoặc ép buộc sẽ không có giá trị pháp lý (Điều 49, 52 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia). Nguyên tắc này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể ký kết ttong các quan hệ pháp luật quốc tế, tránh sự áp đặt từ bên ngoài với mục đích thôn tính hay tạo ra tình trạng phải lệ thuộc về kinh tế, chính trị vào quốc gia khác. Nguyên tắc này đổng thời tạo cơ sở để duy trì tương quan có lợi cho hoà bình, an ninh và ổn định ở từng khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu, hạn chế sự lạm quyền và tình trạng không bình’ đẳng trong quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh của các chủ thể luật quốc tế. Nguyên tắc này còn trở thành một trong những điều kiện pháp lý để điều ước quốc tế đã ký kết có hiệu lực trong thực tiễn.

