Trách nhiệm báo cáo tình hình đấu thầu năm thuộc về các cơ quan, tổ chức có chức năng đấu thầu. Việc không báo cáo sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
Mục lục bài viết
Ai có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện công tác đấu thầu hằng năm?
Theo quy định tại Điều 78 của Luật Đấu thầu năm 2023, trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện công tác đấu thầu hằng năm thuộc về chủ đầu tư.
Không báo cáo tình hình thực hiện công tác đấu thầu thì chủ đầu tư bị xử phạt thế nào?
Chủ đầu tư nào không thực hiện nghĩa vụ báo cáo tình hình thực hiện đấu thầu sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1, điểm c, Điều 38 của Nghị định 122/2021/NĐ-CP. Mức xử phạt cụ thể được quy định như sau:
– Theo khoản 2, Điều 4 của Nghị định 122/2021/NĐ-CP, đối với tổ chức, mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
– Đối với cá nhân, mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ đầu tư không báo cáo tình hình thực hiện công tác đấu thầu là bao lâu?
Đối với hành vi chủ đầu tư không báo cáo tình hình thực hiện công tác đấu thầu, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể như sau:
Theo Điều 5 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu thầu sẽ được tính từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện hoặc từ ngày phát hiện hành vi vi phạm nhưng không quá 02 năm. Tuy nhiên, đối với một số hành vi vi phạm cụ thể, thời hiệu xử phạt có thể được kéo dài thêm, cụ thể như sau:
– Trường hợp vi phạm gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc lợi ích công cộng thì thời hiệu xử phạt kéo dài đến 05 năm.
– Trường hợp vi phạm thuộc loại nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì thời hiệu xử phạt kéo dài đến 10 năm.
Trong trường hợp chủ đầu tư không báo cáo tình hình thực hiện công tác đấu thầu, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính sẽ là 01 năm, tính từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện hoặc từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

