Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản, không thể thiếu của bất kì nhà nước nào, bởi lẽ pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội. Theo Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, xây dựng pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội, trong đó bao gồm việc ban hành pháp luật, sửa đổi, bổ sung pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Theo Điều 3 Luật Ban hành Luật và Pháp lệnh năm 2001, xây dựng pháp luật phải được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc và các yêu cầu của pháp luật, cũng như phải bảo đảm sự hài hòa với các pháp luật khác, các cam kết quốc tế và các quy định của Chính phủ.

Xây dựng pháp luật còn phải được thực hiện trên cơ sở tham vấn, phân công trách nhiệm và kiểm soát của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân. Do đó, xây dựng pháp luật là một quá trình cần có sự tham gia, phối hợp và kiểm soát của tất cả các bên liên quan.

Việc xây dựng pháp luật không chỉ dừng lại ở việc ban hành pháp luật cho các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, mà còn phải được thực hiện trên cơ sở đảm bảo ứng xử của các cá nhân trong toàn xã hội. Theo Điều 12 Luật Hiến pháp năm 2013, công dân có quyền được bảo đảm an toàn, tôn trọng và bảo vệ về thân thể, danh dự, nhân phẩm và tài sản của mình.

Theo Điều 21 Luật Tố cáo năm 2018, công dân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật, các hành vi tham nhũng, các hành vi móc nối và các hành vi khác vi phạm pháp luật. Do đó, việc xây dựng pháp luật không chỉ dừng lại ở việc ban hành pháp luật, mà còn phải được thực hiện trên cơ sở đảm bảo ứng xử của các cá nhân trong toàn xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Xây dựng pháp luật: Nghiệp vụ quan trọng của Nhà nước

Ngày nay, pháp luật không chỉ giới hạn phạm vi tác động trong từng quốc gia mà còn mở rộng phạm vi tác động lên các mối quan hệ quốc tế, giữa các quốc gia, dân tộc và các tổ chức quốc tế, như quy định tại Điều 17 của Luật Tương trợ Tư pháp năm 2018. Theo đó, pháp luật quốc gia phải được xây dựng và thi hành thống nhất với pháp luật quốc tế, để đảm bảo phát triển và bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc và con người. Do đó, vai trò, mục đích và ý nghĩa của hoạt động xây dựng pháp luật ngày càng được tăng cường, đòi hỏi phải có các quy định pháp lý rõ ràng, thống nhất và hiệu quả trong xây dựng và thi hành pháp luật.

Xây dựng pháp luật là hoạt động phức tạp và đa diện, trong đó bao gồm cả khía cạnh chính trị và khía cạnh kĩ thuật pháp lí. Theo Điều 2 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, xây dựng pháp luật là hoạt động nhằm thể hiện ý chí của nhà nước thành pháp luật, thể hiện ý chí của quốc gia về việc quản lý và phát triển xã hội. Ở khía cạnh kĩ thuật pháp lí, xây dựng pháp luật là hoạt động sáng tạo pháp luật, đòi hỏi phải có sự tham gia và đóng góp của các chuyên gia pháp lý, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội và các cá nhân khác. Do vậy, xây dựng pháp luật là một hoạt động quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp và thống nhất giữa các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân.

Xây dựng pháp luật là hoạt động phức tạp và toàn diện, bao gồm cả ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền và hoạt động của tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình tạo lập pháp luật. Theo Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, quá trình tạo lập pháp luật là quá trình phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổ chức và cá nhân có vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành. Mục đích của quá trình tạo lập pháp luật là chuyển hoá ý chí nhà nước thành những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện dưới những hình thức pháp lí nhất định, đặc biệt là hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, xây dựng pháp luật là hoạt động của toàn xã hội, trong đó các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và các cá nhân đều tham gia và đóng góp vào quá trình tạo lập pháp luật.

Xây dựng pháp luật là khâu đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình điều chỉnh pháp luật, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015. Quá trình xây dựng pháp luật nhằm đặt ra, sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội, đảm bảo tính thống nhất, ổn định và phát triển của pháp luật. Xây dựng pháp luật là cơ sở để thực hiện các chức năng của Nhà nước, bao gồm bảo đảm an ninh, trật tự, phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích của công dân. Thông qua xây dựng pháp luật, Nhà nước có thể điều chỉnh quan hệ xã hội, giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tế, và đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội.

Hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước và pháp luật, được quy định tại Điều 1 của Hiến pháp năm 2013. Theo đó, pháp luật do các cơ quan Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, chỉ Nhà nước mới có thể ban hành một hệ thống quy phạm pháp luật thống nhất để điều chỉnh một cách hiệu quả các quan hệ xã hội. Xây dựng pháp luật là một hình thức để thực hiện chức năng của Nhà nước, là sự thể hiện và thực hiện quyền lực Nhà nước trong thực tiễn. Theo Điều 2 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, Nhà nước có quyền ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự, phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích của công dân. Do vậy, xây dựng pháp luật là một trong những công cụ quan trọng nhất của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, để điều chỉnh và phát triển xã hội.

Xây dựng pháp luật: Đảm bảo an ninh, phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ quyền lợi công dân

Xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức và khoa học, được quy định tại Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015. Được diễn ra theo các quy trình nhất định, bao gồm giai đoạn nghiên cứu, lập dự thảo, thẩm định, thông qua và ban hành, với những nội dung cơ bản là:

* Nghiên cứu pháp lý: phân tích, đánh giá và tổng hợp các quy định pháp lý hiện hành, các xu hướng phát triển pháp lý, các vấn đề pháp lý đang tồn tại.
* Lập dự thảo: soạn thảo các dự thảo pháp luật, các dự thảo nghị quyết, các dự thảo quy định, các dự thảo quyết định.
* Thẩm định: thẩm định các dự thảo pháp luật, các dự thảo nghị quyết, các dự thảo quy định, các dự thảo quyết định về mặt pháp lý, về mặt khoa học, về mặt chính trị.
* Thông qua: thông qua các dự thảo pháp luật, các dự thảo nghị quyết, các dự thảo quy định, các dự thảo quyết định tại các cơ quan, các cơ quan lập pháp.
* Ban hành: ban hành các pháp luật, các nghị quyết, các quy định, các quyết định đã được thông qua.

Trong quá trình xây dựng pháp luật, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân phải tuân thủ các quy định pháp lý và các quy trình xây dựng pháp luật để đảm bảo pháp luật được xây dựng và ban hành một cách khoa học, hợp pháp và hiệu quả.

Thứ nhất, trong quá trình xây dựng pháp luật, cần phải làm sáng tỏ những nhu cầu về sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ xã hội, xác định đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng và phương pháp điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ xã hội đó. Theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, pháp luật phải được xây dựng và ban hành để đáp ứng nhu cầu xã hội, bảo vệ pháp quyền, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phát triển kinh tế – xã hội.

Theo đó, trong quá trình xây dựng pháp luật, cần phải xác định rõ đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng và phương pháp điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ xã hội đó. Đối tượng áp dụng phải được xác định rõ ràng, cụ thể, và phạm vi áp dụng phải được quy định để đảm bảo pháp luật được áp dụng thống nhất và hiệu quả. Phương pháp điều chỉnh pháp luật phải được lựa chọn phù hợp với đặc điểm của quan hệ xã hội đó, để đảm bảo pháp luật được áp dụng hiệu quả và công bằng.

Thứ hai, công nghệ sáng tạo ra quy phạm pháp luật là một khía cạnh quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật. Theo quy định tại Điều 5 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, các nhà nước có quyền quy định về thẩm quyền, tên gọi, nội dung, nguyên tắc và trình tự, thủ tục ban hành đối với mỗi loại hình thức pháp luật nhất định. Những quy định này có tác dụng bảo đảm cho các quy định pháp luật được ban hành có chất lượng, mang tính khoa học, thể hiện được đầy đủ ý chí nhà nước, phát huy được hiệu lực và có hiệu quả ứng dụng trong thực tế.

Xây dựng pháp luật gắn liền với quá trình nhận thức và thể hiện các lợi ích của toàn xã hội, của nhóm xã hội khác nhau, của nhà nước, của tập thể, của các giai cấp và mỗi cá nhân. Theo quy định tại Điều 2 của Hiến pháp năm 2013, xây dựng pháp luật phải được thực hiện để bảo đảm các quyền và lợi ích của người dân, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, xây dựng pháp luật phải gắn liền với nhu cầu và lợi ích của xã hội, được xây dựng trên cơ sở các giá trị pháp lý, đạo đức và chính trị.

Khác với các hoạt động pháp luật khác, xây dựng pháp luật là một quá trình sáng tạo, mang tính quyết định trong việc tạo ra quy định pháp luật mới để bổ sung vào hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành hoặc sửa đổi, loại bỏ những quy định pháp luật đã lỗi thời, không còn phù với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện tại, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước.

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, xây dựng pháp luật là một quá trình sáng tạo ra các quy định pháp luật trên cơ sở nhận thức quy luật và lợi ích xã hội. Các quy định pháp luật – sản phẩm của hoạt động xây dựng pháp luật là kết quả hoạt động tư duy của con người, thông qua quá trình nhận thức các quy luật vận động, phát triển của các quan hệ xã hội, tầm quan trọng của chúng.

Theo quy định tại Điều 2 của Hiến pháp năm 2013, xây dựng pháp luật phải được thực hiện để bảo đảm các quyền và lợi ích của người dân, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, xây dựng pháp luật đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dự liệu được trước cả những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong tương lai để có thể đặt ra các quy định pháp luật bảo đảm nhu cầu phát triển lâu dài, ổn định của đất nước.

Trong quá trình xây dựng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu, đánh giá đúng, chính xác những quy tắc xử sự đó cùng với những điều kiện tồn tại vận động và phát triển của các quan hệ xã hội. Ngay cả trong việc thừa nhận các quy tắc xử sự đã có sẵn như đạo đức, tập quán… thành pháp luật cũng đòi hỏi sự sáng tạo rất lớn của các chủ thể tham gia. Bởi việc thừa nhận quy tắc này hay quy tắc khác cũng đòi hỏi có sự nghiên cứu, đánh giá đúng, chính xác những quy tắc xử sự đó cùng với những điều kiện tồn tại vận động và phát triển của các quan hệ xã hội.

Việc xây dựng pháp luật là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của các chủ thể khác nhau. Theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, xây dựng pháp luật có thể được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, bao gồm Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan khác có thẩm quyền. Ngoài ra, các cơ quan của các tổ chức xã hội, như các hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, cũng có thể tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật.

Theo Điều 5 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, các chủ thể có thẩm quyền có thể phê chuẩn các quy tắc như tập quán, đạo đức… đã có sẵn trong xã hội thành pháp luật, hoặc có thể đặt ra các quy tắc mới thể hiện trong văn bản quy phạm pháp luật. Các quy định pháp luật mới có thể được tạo ra từ hoạt động thực tiễn của các cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết những vụ việc cụ thể.

Các chủ thể có thẩm quyền cũng có thể tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật thông qua các hình thức khác nhau, như tham gia vào các ban, các hội đồng, các ủy ban… để tham gia vào quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật. Quá trình xây dựng pháp luật là một quá trình cần có sự tham gia, đóng góp của nhiều chủ thể khác nhau, nhằm đảm bảo rằng các quy định pháp luật được xây dựng là phù hợp với nhu cầu của xã hội và các quy tắc của pháp luật.

Pháp luật là một hệ thống thống nhất, phức tạp và có liên kết chặt chẽ giữa các quy phạm pháp luật. Khi ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kì một quy định pháp luật nào, cần phải cân nhắc và xem xét đến tính hệ thống của nó trong tổng thể của hệ thống quy phạm pháp luật của đất nước.

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, xây dựng pháp luật phải được thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ tính hệ thống của pháp luật. Điều này có nghĩa là khi xây dựng, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ các quy định pháp luật, phải xem xét đến sự phù hợp, sự tác động, ảnh hưởng của nó đối với các quy phạm pháp luật hiện hành.

Do sự liên kết chặt chẽ giữa các quy phạm pháp luật, giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật, một quy phạm pháp luật được bổ sung hay thay đổi có thể dẫn đến sự thay đổi của các quy phạm pháp luật khác, sự thay đổi của các hiện tượng pháp luật khác. Vì vậy, không thể tuỳ tiện khi xây dựng các quy định pháp luật. Cần phải có sự tham gia, đóng góp của nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều cơ quan, và phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo rằng các quy định pháp luật được xây dựng là phù hợp với nhu cầu của xã hội và các quy tắc của pháp luật.

Xây dựng pháp luật là một quá trình quan trọng, góp phần vào việc biến những đòi hỏi, những quy luật khách quan của đời sống xã hội thành những quy tắc hành vi cho con người. Theo quy định tại Điều 1 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, xây dựng pháp luật là một trong những chức năng của Quốc hội, có ý nghĩa quyết định trong việc định ra những quy tắc, tiêu chuẩn, và khuôn khổ cho hoạt động của Nhà nước và xã hội.

Do vậy, xây dựng pháp luật cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, khoa học, để đảm bảo rằng pháp luật được xây dựng là phù hợp với nhu cầu của xã hội, đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển bền vững đất nước. Theo quy định tại Điều 10 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, xây dựng pháp luật phải được thực hiện trên nguyên tắc khoa học, khách quan, công minh, và phải có sự tham gia, đóng góp của nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều cơ quan.

Xây dựng pháp luật còn góp phần vào việc củng cố Nhà nước, quản lí các mặt khác nhau của đời sống xã hội, đảm bảo an ninh, trật tự, và hòa bình trong xã hội. Do đó, xây dựng pháp luật phải được tiến hành một cách khoa học, thận trọng, và phải được xem xét, đánh giá một cách kỹ lưỡng trước khi được ban hành.

Xây dựng pháp luật: Kết hợp khoa học và khách quan trong xây dựng quy phạm pháp luật.

Theo quy định tại Điều 34 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, các trường hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn bao gồm:

  • Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành;
  • Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có nội dung quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành;
  • Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành;

Theo quy định tại Điều 35 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, các trường hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn phải được đại diện chủ sở hữu, người đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan tâm, có liên quan hoặc được ủy quyền, để có thể đảm bảo an ninh, trật tự, và hòa bình trong xã hội.

Theo Điều 34 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, trường hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn được áp dụng trong các trường hợp khẩn cấp sau:

Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, trong đó bao gồm trường hợp chiến tranh, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ, hoặc các tình trạng khẩn cấp khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ, trong đó bao gồm các trường hợp cần thiết để ngăn ngừa, ứng phó, và khắc phục hậu quả của thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ.

Trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, trong đó bao gồm các trường hợp cần thiết để giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, bảo đảm an ninh, trật tự, và hòa bình trong xã hội.

Theo quy định tại Điều 35 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, trong các trường hợp trên, văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng và ban hành theo thủ tục rút gọn phải được đại diện chủ sở hữu, người đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan tâm, có liên quan hoặc được ủy quyền, để có thể đảm bảo an ninh, trật tự, và hòa bình trong xã hội.

Theo Điều 14 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, trường hợp cần ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật là khi cần thiết để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điều này được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 14, Nhà nước có quyền ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong các trường hợp sau:

  • Khi văn bản quy phạm pháp luật đó đang gây hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
  • Khi văn bản quy phạm pháp luật đó đang trái với quy định của pháp luật.
  • Khi văn bản quy phạm pháp luật đó đang gây khó khăn cho việc thực hiện các chính sách, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước.

Ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật phải được thực hiện theo thủ tục rút gọn, và phải được công bố rộng rãi để đảm bảo an ninh, trật tự, và hòa bình trong xã hội.

Theo Điều 15 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành là khi có văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và cần phải sửa đổi ngay các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để phù hợp với những thay đổi đó.

Cụ thể, Điều 15 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015 quy định rằng, trong trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, thì phải thực hiện các bước sau:

  • Ban hành văn bản sửa đổi để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành;
  • Thực hiện các thủ tục cần thiết để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật;
  • Tiếp nhận và xem xét ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

Theo Điều 16 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, trường hợp cần ban hành ngay văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên là khi có điều ước quốc tế được ký kết và cần phải ban hành ngay các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các nghĩa vụ và lợi ích của Việt Nam trong điều ước đó.

Cụ thể, Điều 16 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015 quy định rằng, trong trường hợp cần ban hành ngay văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế, thì phải thực hiện các bước sau:

  • Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế;
  • Thực hiện các thủ tục cần thiết để ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
  • Tiếp nhận và xem xét ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

Theo Điều 77 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội là khi có nhu cầu cần thiết và phải thực hiện các thủ tục bãi bỏ theo quy định của pháp luật.

Cụ thể, Điều 77 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015 quy định rằng, trong trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật, thì phải thực hiện các bước sau:

  • Đánh giá và xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật đó để xác định xem nó còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội hay không;
  • Nếu phát hiện ra rằng văn bản quy phạm pháp luật đó trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội, thì phải thực hiện thủ tục bãi bỏ theo quy định của pháp luật;
  • Thủ tục bãi bỏ bao gồm các bước như: Đánh giá và xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật, công bố quyết định bãi bỏ, các thủ tục cần thiết khác;

Theo Điều 78 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, quyết định bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Tóm lại, trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội phải được thực hiện các thủ tục bãi bỏ theo quy định của pháp luật và phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Theo Điều 79 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn là khi có nhu cầu cần thiết và phải thực hiện các thủ tục kéo dài thời hạn theo quy định của pháp luật.

Cụ thể, Điều 79 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015 quy định rằng, trong trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, thì phải thực hiện các bước sau:

  • Đánh giá và xem xét lại tình hình thực tiễn để xác định xem những vấn đề cấp bách phát sinh và có nhu cầu kéo dài thời hạn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật hay không;
  • Nếu phát hiện ra rằng có nhu cầu kéo dài thời hạn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, thì phải thực hiện thủ tục kéo dài thời hạn theo quy định của pháp luật;
  • Thủ tục kéo dài thời hạn bao gồm các bước như: Đánh giá và xem xét lại tình hình thực tiễn, công bố quyết định kéo dài thời hạn, các thủ tục cần thiết khác;

Theo Điều 80 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, quyết định kéo dài thời hạn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Tóm lại, trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn phải được thực hiện các thủ tục kéo dài thời hạn theo quy định của pháp luật và phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Theo Điều 15 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015, thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn thuộc về Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong trường hợp cần thiết phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết vấn đề cấp bách, phát sinh trong thực tiễn.

Cụ thể, Điều 15 của Luật Xây dựng Pháp luật năm 2015 quy định rằng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn trong trường hợp sau:

  • Khi có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết vấn đề đó;
  • Khi có sự thống nhất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Khi đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được thông báo và có ý kiến.

Theo đó, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải xem xét và quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn sau khi đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được thông báo và có ý kiến. Quyết định của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo Điều 124 của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Cụ thể, Điều 124 của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định rằng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của mình trong trường hợp sau:

  • Khi có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành pháp lệnh, nghị quyết để giải quyết vấn đề đó;
  • Khi có sự thống nhất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Khi đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được thông báo và có ý kiến.

Ngoài ra, Điều 125 của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 còn quy định rằng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải trình Quốc hội việc xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn trong các trường hợp sau:

  • Khi có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành luật, nghị quyết để giải quyết vấn đề đó;
  • Khi có sự thống nhất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Khi đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được thông báo và có ý kiến.

Quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo Điều 88 của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Chủ tịch nước có quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của mình trong trường hợp sau:

Chủ tịch nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của mình khi có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành lệnh, quyết định để giải quyết vấn đề đó.

Cụ thể, Chủ tịch nước có thể quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn khi:

  • Có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành lệnh, quyết định để giải quyết vấn đề đó;
  • Có sự thống nhất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được thông báo và có ý kiến.

Quyết định của Chủ tịch nước về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo Điều 89 của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, quyết định của Chủ tịch nước về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành, trừ trường hợp có nhu cầu cấp bách và phải được thông báo cho Quốc hội.

Theo Điều 2 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP về quy định chi tiết pháp luật về thủ tục hành chính, Thủ tướng Chính phủ có quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của mình trong trường hợp sau:

Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của mình khi có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành nghị định, quyết định để giải quyết vấn đề đó.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ có thể quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn khi:

  • Có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành nghị định, quyết định để giải quyết vấn đề đó;
  • Có sự thống nhất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được thông báo và có ý kiến.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo Điều 3 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành, trừ trường hợp có nhu cầu cấp bách và phải được thông báo cho Quốc hội.

Theo Điều 2 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP về quy định chi tiết pháp luật về thủ tục hành chính, Thủ tướng Chính phủ có quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của mình trong trường hợp sau:

Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của mình khi có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành nghị định, quyết định để giải quyết vấn đề đó.

Theo Điều 3 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ cũng có quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành trong trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Theo Điều 5 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo Điều 6 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành, trừ trường hợp có nhu cầu cấp bách và phải được thông báo cho Quốc hội.

Theo Điều 4 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP về quy định chi tiết pháp luật về thủ tục hành chính, Thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp sau:

Thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh khi có nhu cầu cấp bách, phát sinh trong thực tiễn và phải ban hành nghị quyết để giải quyết vấn đề đó.

Theo Điều 5 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh cũng có quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành quyết định của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Theo Điều 6 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP, quyết định của Thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo Điều 7 của Nghị định 16/2019/NĐ-CP, quyết định của Thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh về việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành, trừ trường hợp có nhu cầu cấp bách và phải được thông báo cho Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh.

Theo Điều 148 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020, trình tự, thủ tục rút gọn được quy định như sau:

Trình tự, thủ tục rút gọn là trình tự, thủ tục được áp dụng trong trường hợp cấp bách, phát sinh trong thực tiễn, phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết vấn đề đó. Theo quy định, trình tự, thủ tục rút gọn phải được quyết định bởi người có thẩm quyền và phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Theo Điều 148 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020, trình tự, thủ tục rút gọn phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành, trừ trường hợp có nhu cầu cấp bách và phải được thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền có thể quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn để giải quyết vấn đề cấp bách, phát sinh trong thực tiễn, và phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Quá trình áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành.

Theo quy định tại Điều 13 của Nghị định 34/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ, trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tổ chức việc soạn thảo một cách khoa học, hợp lý và tiết kiệm thời gian. Để thực hiện này, cơ quan chủ trì soạn thảo phải thực hiện các bước sau:

Thứ nhất, xác định rõ mục đích và yêu cầu của văn bản quy phạm pháp luật cần soạn thảo; xác định phạm vi, đối tượng, nội dung và đối tượng áp dụng của văn bản đó.

Thứ hai, tổ chức các thành viên trong đoàn soạn thảo, bao gồm các chuyên gia, chuyên viên, và các cá nhân khác có liên quan đến nội dung của văn bản.

Thứ三年, tiến hành nghiên cứu, thu thập thông tin, dữ liệu và phân tích các vấn đề có liên quan đến nội dung của văn bản.

Thứ tư, thảo luận và thống nhất nội dung của văn bản dưới sự chỉ đạo của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Thứ năm, hoàn thiện nội dung của văn bản và gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tham gia góp ý và phản hồi.

Thứ sáu, hoàn thiện và phê duyệt văn bản theo quy định.

Theo quy định tại Điều 14 của Nghị định 34/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ, trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đây là một trong những bước quan trọng trong quá trình soạn thảo văn bản, giúp đảm bảo rằng văn bản được soạn thảo có tính thống nhất, hợp lý và đáp ứng nhu cầu của các bên có liên quan.

Theo quy định, khi lấy ý kiến bằng văn bản, thời hạn lấy ý kiến không quá 20 ngày. Điều này giúp đảm bảo rằng các đối tượng có liên quan có đủ thời gian để nghiên cứu, đánh giá và phản hồi về dự thảo văn bản.

Việc lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan còn giúp cơ quan chủ trì soạn thảo thu thập được đầy đủ thông tin, đánh giá được phản ứng của các bên có liên quan và hoàn thiện nội dung của văn bản để đảm bảo rằng văn bản được soạn thảo có tính hiệu quả, khoa học và hợp lý.

Theo quy định tại Điều 15 của Nghị định 34/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ, trong quá trình thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản, cơ quan thẩm định và cơ quan chủ trì thẩm tra phải thực hiện các bước sau:

Cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định dự thảo văn bản trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án, dự thảo văn bản. Quá trình thẩm định này bao gồm việc đánh giá về mặt pháp lý, kỹ thuật và kinh tế của dự thảo văn bản, cũng như việc xác định tính hợp pháp, hợp lý và khoa học của nội dung dự thảo văn bản.

Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản trong cùng thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án, dự thảo văn bản. Quá trình thẩm tra này bao gồm việc đánh giá về mặt kỹ thuật, kinh tế và xã hội của dự thảo văn bản, cũng như việc xác định tính khả thi, hiệu quả và an toàn của nội dung dự thảo văn bản.

Việc thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản là một trong những bước quan trọng trong quá trình soạn thảo văn bản, giúp đảm bảo rằng văn bản được soạn thảo có tính khoa học, hợp lý và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của các bên có liên quan.

Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 34/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ, trong quá trình trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo phải chuẩn bị và trình bày hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật với các tài liệu sau:

  • Văn bản trình dự thảo quy phạm pháp luật;
  • Báo cáo lý giải về nội dung và mục đích của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;
  • Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được soạn thảo theo trình tự, thủ tục rút gọn;
  • Các tài liệu về pháp lý, kỹ thuật và kinh tế có liên quan đến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;
  • Ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;
  • Biểu thuế, biểu phí (nếu có);
  • Dự toán kinh phí (nếu có);
  • ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Hồ sơ trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nộp đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trình dự thảo quy phạm pháp luật. Quá trình trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là một trong những bước quan trọng trong quá trình soạn thảo văn bản, giúp đảm bảo rằng văn bản được soạn thảo có tính khoa học, hợp lý và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của các bên có liên quan.

Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 34/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ, trong quá trình trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lập và trình bày Tờ trình về dự án, dự thảo, bao gồm các nội dung sau:

  • Tên dự án, dự thảo và mục đích của việc trình dự thảo;
  • Nguồn gốc và nguyên tắc soạn thảo của dự thảo;
  • Nội dung và phạm vi của dự thảo;
  • Ý nghĩa và tác động của dự thảo đối với các bên có liên quan;
  • Các căn cứ pháp lý và khoa học của dự thảo;
  • Các giải pháp và biện pháp thực hiện dự thảo;
  • Danh sách các tài liệu và hồ sơ có liên quan đến dự thảo;
  • Ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung dự thảo.

Tờ trình về dự án, dự thảo phải được lập và trình bày rõ ràng, chi tiết và đầy đủ, giúp cho các bên có liên quan hiểu rõ về nội dung và mục đích của dự thảo, cũng như về các căn cứ pháp lý và khoa học của dự thảo. Quá trình trình bày Tờ trình về dự án, dự thảo là một trong những bước quan trọng trong quá trình soạn thảo văn bản, giúp đảm bảo rằng văn bản được soạn thảo có tính khoa học, hợp lý và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của các bên có liên quan.

Theo quy định tại Điều 18 của Nghị định 34/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ, dự thảo văn bản là một giai đoạn quan trọng trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo văn bản phải được lập và trình bày rõ ràng, chi tiết và đầy đủ, bao gồm các nội dung sau:

  • Tên văn bản và mục đích của việc soạn thảo;
  • Nguồn gốc và nguyên tắc soạn thảo của văn bản;
  • Nội dung và phạm vi của văn bản;
  • Ý nghĩa và tác động của văn bản đối với các bên có liên quan;
  • Các căn cứ pháp lý và khoa học của văn bản;
  • Các giải pháp và biện pháp thực hiện văn bản;
  • Danh sách các tài liệu và hồ sơ có liên quan đến văn bản;
  • Ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung văn bản.

Dự thảo văn bản phải được soạn thảo trên cơ sở các căn cứ pháp lý và khoa học, đảm bảo rằng văn bản được soạn thảo có tính khoa học, hợp lý và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của các bên có liên quan. Quá trình soạn thảo dự thảo văn bản phải được thực hiện trong một phạm vi và thời gian nhất định, được quy định tại Điều 19 của Nghị định 34/2020/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điều 15 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thực hiện báo cáo thẩm định đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm:

  • Dự thảo nghị định của Chính phủ;
  • Dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
  • Dự thảo quyết định của ủy ban nhân dân.

Báo cáo thẩm định phải được lập và trình bày rõ ràng, chi tiết và đầy đủ, bao gồm các nội dung sau:

  • Đánh giá về tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả của dự thảo văn bản;
  • Xem xét về sự phù hợp của dự thảo văn bản với các quy định pháp lý hiện hành và các văn bản pháp lý khác có liên quan;
  • Đánh giá về tác động của dự thảo văn bản đến các bên có liên quan, bao gồm các tổ chức, cá nhân và xã hội;
  • Đề xuất các sửa đổi, bổ sung hoặc意见 khác về dự thảo văn bản để đảm bảo rằng văn bản được ban hành là hợp pháp, hợp lý và hiệu quả.

Về báo cáo thẩm tra, theo quy định tại Điều 103 của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, các ủy ban của Quốc hội phải thực hiện báo cáo thẩm tra đối với các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết của hội đồng nhân dân. Báo cáo thẩm tra phải được lập và trình bày rõ ràng, chi tiết và đầy đủ, bao gồm các nội dung sau:

  • Xem xét về sự phù hợp của dự án luật, dự thảo nghị quyết với các quy định pháp lý hiện hành và các văn bản pháp lý khác có liên quan;
  • Đánh giá về tác động của dự án luật, dự thảo nghị quyết đến các bên có liên quan, bao gồm các tổ chức, cá nhân và xã hội;
  • Đề xuất các sửa đổi, bổ sung hoặc ý kiến khác về dự án luật, dự thảo nghị quyết để đảm bảo rằng văn bản được ban hành là hợp pháp, hợp lý và hiệu quả.

Tóm lại, báo cáo thẩm định và báo cáo thẩm tra là các giai đoạn quan trọng trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, giúp đảm bảo rằng văn bản được ban hành là hợp pháp, hợp lý và hiệu quả.

Theo quy định tại Điều 14 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn. Trình tự, thủ tục rút gọn bao gồm các bước sau:

  • Đánh giá về tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả của dự án, dự thảo văn bản;
  • Xem xét về sự phù hợp của dự án, dự thảo văn bản với các quy định pháp lý hiện hành và các văn bản pháp lý khác có liên quan;
  • Tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Xem xét về tác động của dự án, dự thảo văn bản đến các bên có liên quan, bao gồm các tổ chức, cá nhân và xã hội;
  • Đánh giá về tính kịp thời, tính khả thi và tính hiệu quả của dự án, dự thảo văn bản.

Sau khi hoàn thành các bước trên, cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ quyết định xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Nếu dự án, dự thảo văn bản được thông qua, thì cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Theo quy định tại Điều 15 của Nghị định 30/2020/NĐ-CP về ban hành và công bố văn bản quy phạm pháp luật, trong trường hợp cần thiết, cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn để xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. However, phải đảm bảo rằng trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện trong khuôn khổ pháp lý và đảm bảo rằng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành là hợp pháp, hợp lý và hiệu quả.

Theo quy định tại Điều 16 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải ký chứng thực văn bản quy phạm pháp luật sau khi đã được thông qua. Trước khi ký chứng thực, người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo rằng văn bản quy phạm pháp luật đã được thông qua đúng quy trình, thủ tục và đã được kiểm tra về tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả.

Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 30/2020/NĐ-CP về ban hành và công bố văn bản quy phạm pháp luật, người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải ký chứng thực văn bản quy phạm pháp luật trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày văn bản được thông qua. Người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải ký chứng thực bằng chữ ký điện tử hoặc chữ ký thủ công, và văn bản quy phạm pháp luật phải được đóng dấu của cơ quan ban hành.

Sau khi ký chứng thực, người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản quy phạm pháp luật đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực từ ngày ký chứng thực và được áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 41 của Luật Đấu thầu năm 2013, trong trường hợp gói thầu chia thành nhiều phần độc lập, thì trong thỏa thuận liên danh phải nêu rõ tên, số hiệu của các phần mà nhà thầu liên danh tham dự thầu, trong đó nêu rõ trách nhiệm chung và trách nhiệm riêng của từng thành viên liên danh đối với phần tham dự thầu. Điều này nhằm đảm bảo rằng trách nhiệm của từng thành viên liên danh được rõ ràng và dễ dàng theo dõi trong quá trình thực hiện gói thầu.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 41 của Luật Đấu thầu năm 2013, để bảo đảm trách nhiệm của từng thành viên liên danh, thỏa thuận liên danh phải bao gồm các nội dung sau: tên, số hiệu của các phần mà nhà thầu liên danh tham dự thầu; trách nhiệm chung và trách nhiệm riêng của từng thành viên liên danh đối với phần tham dự thầu; quyền và nghĩa vụ của từng thành viên liên danh trong quá trình thực hiện gói thầu.

Tóm lại, để thực hiện gói thầu chia thành nhiều phần độc lập, nhà thầu liên danh phải lập thỏa thuận liên danh nêu rõ tên, số hiệu của các phần tham dự thầu, trách nhiệm chung và trách nhiệm riêng của từng thành viên liên danh đối với phần tham dự thầu.

Đăng ký với GGL AI

Quý khách cần thêm thông tin có thể hỏi trực tiếp từ GGL AI hoặc đăng ký email bên cạnh

Vui lòng xem  đọc qui đình tại Chính Sách Quyền Riêng Tư