Mục lục bài viết
Lời khai được xem là một trong những nguồn chứng cứ khi xác minh dấu hiệu tội phạm cũng như là công cụ để cơ quan công an tiến hành khoanh vùng tội phạm. Vậy trong trường hợp chỉ mới dựa trên lời khai mà không có tang vật hoặc không có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan công an có được tiến hành bắt giữ người hay không ?
Rất mong nhận được tư vấn của Luật sư sớm nhất. Tôi xin chân thành cảm ơn !
Người gửi: L.T.H
>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi:0908906239
Luật sư tư vấn:
1. Lời khai là gì ?
Lời khai là lời trình bày cua bị can, bị cao, người bị hại, người bị tạm giữ, người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan tới vụ án, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự mà người này đã thực hiện hoặc biết được theo yêu cầu của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án theo trinh tự luật định nhằm giải quyết vụ án một cách đúng đắn, khách quan nhất.
2. Lời khai có phải là nguồn chứng cứ theo quy định pháp luật không?
Theo Điều 86 về Chứng cứ quy định tại Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Như vậy có thể hiểu, chứng cứ chính là dựa trên những sự kiện, hành động thực tế phát sinh xoay quanh một sự kiện pháp lý nhất định. Việc lời khai có được xác định là nguồn chứng cứ hay không Luật quy định như sau :
Theo quy định tại Điều 87 về Nguồn chứng cứ – Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn sau đây :
Như vậy, trong quá trình thu thập chứng cứ thì lời khai cũng được xem là một nguồn chứng cứ hợp pháp. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì lời khai không phải là nguồn chứng cứ, chứng cứ được hiểu ở đây chính là những nội dung mà cơ quan công an thu thập được từ lời khai của bị can, bị cáo. Về lời khai có thể phân theo từng loại đối tượng cụ thể, từ đó thu được nguồn chứng cứ là các nội dung từ những khía cạnh khác nhau giúp khái quát vụ án một cách toàn diện, khách quan hơn theo quy định tại Chương VI của Luật Tố tụng hình sự năm 2015 :
Như vậy, theo quy định pháp luật thì lời khai cũng được xem là một nguồn chứng cứ khi cơ quan công an, cơ quan điều tra tiến hành giải quyết các vụ án. Tuy nhiên, việc lấy lời khai không thể được xem là căn cứ duy nhất hoặc là nguồn căn cứ chính xác nhất để xác định tội phạm hay để định tội một chủ thể hay pháp nhân nào đó.
Kết luận: Trong trường hợp mà bạn gửi đến cho Luật GGL, việc người nhà của bạn bị bắt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng khi khám nhà lại không thu giữ được bằng chứng hay tang vật nào không phải là không có cơ sở. Như chúng tôi phân tích ở trên cùng với ở đây chưa xác định được người khai rằng gia đình bạn tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp là bị can, bị cáo, người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan,… nên chưa thể chắc chắn được người nhà bạn có hành vi vi phạm pháp luật kể trên hay không. Vì vậy, việc cơ quan chức năng tiến hành tạm giữ người nhà bạn không phải là không có căn cứ. Tuy nhiên, bạn cần chú ý đến xem tư cách của người mà cơ quan công an đã lấy lời khai khi bắt giữ người nhà bạn để xác định rõ hơn việc bắt giữ đó có hợp pháp hay không. Đối với trường hợp của bạn, khi tạm giữ người thì cơ quan công an sẽ tiến hành lấy lời khai của người nhà bạn và xác minh sự việc, nếu như người nhà bạn không có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nói trên thì sẽ được thả, nếu trường hợp người nhà bạn có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nêu trên thì sẽ bị cơ quan công an tạm giam và giải quyết theo trình tự thủ tục mà pháp luật quy định.
>> Tham khảo: Bắt người phạm tội quả tang là gì? Những Lưu ý khi bắt người?
3. Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng?
Để thu thập thêm bằng chứng làm căn cứ giải quyết vụ án, việc lấy lời khai các đương sự liên quan đến vụ án chính là một nguồn chứng cứ. Luật này quy định hoạt động lấy lời khai của các chủ thể có liên quan như sau :
– Theo Điều 185, Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về Triệu tập người làm chứng : việc triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập. Ngoài ra trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thê triệu tập người làm chứng để lấy lời khai và việc triệu tập người làm chứng phải được thực hiện đúng theo quy định pháp luật ;
– Theo Điều 186, Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về Lấy lời khai người làm chứng : Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó. Trường hợp nếu như vụ án đó có nhiều người làm chúng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật này và việc này phải ghi nhận bằng biên bản. Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai người làm chứng.
– Theo Điều 187, Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về Biên bản ghi lời khai của người làm chứng quy định : Biên bản ghi lời khai của người làm chứng được lập theo quy định tuân thủ theo việc Triệu tập, lấy lời khai của các bên sau đó mới tiến hành ghi nhận vào Biên bản lời khai. Việc lấy lời khai của người làm chứng có thể được thể hiện dưới dạng ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh hoặc được ghi lại dưới dạng văn bản có dấu xác nhận của chủ thể cung cấp lời khai và cán bộ tham gia lấy lời khai.
– Theo Điều 189, Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về trường hợp nếu có mâu thuẫn xảy tra trong lời khai giữ hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.
>> Tham khảo: Bắt quả tang là gì? Những trường hợp bắt người phạm tội quả tang

