Hoạt động dầu khí giữ vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân song cũng gây ra những hậu quả rất lớn đối với môi trường. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động dầu khí ? Bài viết phân tích thêm về vấn dề này:

1. Các khái niệm pháp lý về hoạt động dầu khí

Dầu khí cũng là một loại khoáng sản, tuy nhiên do vị trí đặc biệt quan trọng của hoạt động dầu khí đối với nền kinh tế quốc dân cũng như sự tác động, ảnh hưởng rất lớn của hoạt động này tới vấn đề môi trường mà pháp luật có những quy định riêng về bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí.

“Hoạt động dầu khí” là hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát hiển mỏ và khai thác dầu khí, kể cả hoạt động phục vụ trực tiếp (khoản 4 Điều 3 Luật dầu khí sửa đổi, bổ sung năm 2008). Những hoạt động được đề cập trong hoạt động dầu khí bao gồm: Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí; hoạt động phát triển mỏ; khai thác dầu khí; chế biến dầu khí; dịch vụ dầu khí (các khái niệm liên quan xem Điều 3 Luật dầu khí sửa đổi, bổ sung năm 2008).

2. Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí

Theo báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam hàng năm thì hoạt động dầu khí đã gây ô nhiễm khá nghiêm trọng môi trường nước biển. Đặc biệt là các sự cố tràn dầu xảy ra thường xuyên đã gây ảnh hưởng rất xấu tới sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái biển. Theo Báo cáo hiện ưạng môi trường Việt Nam 2001, năm 1997 đã xảy ra 4 vụ tràn dầu, năm 1998 có 6 vụ, 1999 có 10 vụ. Gần đây, từ cuối năm 2004 đến hết năm 2005 đã xảy ra 5 vụ. Những vụ tràn dầu này tác động xấu tới sự tồn tại phát triển của các loài thuỷ sản, chất lượng nước biển cũng như nguồn nước nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và sản xuất nông nghiệp của người dân nơi xảy ra sự cố. Trước tình trạng hoạt động dầu khí gây ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng như hiện nay thì kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động dầu khí là đòi hòi tất yếu. Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động dầu khí được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng không thể thiếu bộ pháp luật. Pháp luật quy định rõ các quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động dầu khí

Kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động dầu khí được quy định ưong các văn bàn pháp luật như Luật bảo vệ môi trường năm 2014 (Điều 38), Luật đầu khí sửa đổi, bổ sung năm 2008, Nghị định số 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 48/2000/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật dầu khí, Nghị định số 97/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí …

3.1 Nghĩa vụ của Nhà nước

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống quy chuẩn môi trường ưong hoạt động dầu khí:

Quy chuẩn môi trường trong hoạt động dầu khí là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lí môi trường trong hoạt động dầu khí. Những chuẩn mực, giới hạn đó chính là ranh giới về sự tác động của hoạt động dầu khí tới các thành phần môi trường. Ranh giới đó được xác định mức độ cụ thể mà hoạt động dầu khí được phép tác động tới các thành phần môi trường, ví dụ như mức độ xả chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất vào nước biển, mức độ xả khói, bụi vào không khí, giới hạn sử dụng chất phân tán dầu trong nước biển khi có sự cố ttàn dầu…

Những năm gần đây, xác định rõ vai ưò của quy chuẩn môi trường trong hoạt động quản lí nhà nước về môi trường, Nhà nước ta đã xây dựng được hệ thống quy chuẩn môi trường khá đồng bộ trong đó có các tiêu chuẩn môi trường liên quan tới hoạt động dầu khí. Điển hình là các tiêu chuẩn môi trường được quy định trong Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 68/2006/QH11 ngày 29/6/2006, Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 về việc ban hành Quy chuẩn quốc gia về môi trường. Đây là các căn cứ khoa học – pháp lý đặc biệt quan trọng làm cơ sở cho việc kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động dầu khí.

+ Xây dựng kế hoạch quốc gia về ứng phó sự cố tràn dầu trong hoạt động dầu khí

Hoạt động dầu khí luôn có nguy cơ gây ra những sự cố có ảnh hưởng rất xấu tới môi trường mà trong đó sự cố ttàn dầu là một điển hình. Để việc quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường đối với hoạt động dầu khí đạt kết quả cao nhất, xét ở góc độ bảo vệ môi trường, Nhà nước cần xây dựng các kế hoạch để ứng phó sự cố tràn dầu. Ke hoạch này bảo đảm cho Nhà nước có thể huy động nhân lực, vật tư, phương tiện một cách nhanh chóng, hợp lí nhất khi có sự cố tràn dầu xảy ra.

Ngày 29/8/2001, Kế hoạch quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu đầu tiên của Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 129/2001/QĐ-TTg. Tiếp đến là Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu (được ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sô 103/2005/QĐ-TTg ngày 12/5/2005). Theo đó, việc ứng phó sự cố tràn dầu được xác định trên cơ sở phân chia toàn bộ vùng biển nước ta thành ba khu vực như sau:

– Khu vực miền Bắc bao gồm toàn bộ các tỉnh, thành phố miền Bắc tới hết tỉnh Quảng Bình; toàn bộ vùng biển khu vực vịnh Bắc Bộ thuộc phạm vi ứng phó sự cố ưàn dầu đến vĩ tuyến 17°10’N.

– Khu vực miền Trung bao gồm toàn bộ các tỉnh, thành phố miền Trung từ tỉnh Quảng Trị tới hầu hết tỉnh Bình Thuận, toàn bộ vùng biển thuộc phạm vi ứng phó sự cố tràn dầu từ vĩ tuyến 17°10’N đến vĩ tuyến 1 l°20’N.

– Khu vực miền Nam bao gồm toàn bộ các tỉnh, thành phố miền Nam từ tỉnh Ninh Thuận đến hết tỉnh Cà Mau, Kiên Giang; toàn bộ vùng biển từ vĩ tuyến 1 l°20’N về phía Nam đến hết phạm vi ứng phó sự cố ữàn dầu của kế hoạch quốc gia này.

Khi xảy ra sự cố tràn dầu, với tư cách là chủ thể quản lí nhà nước về môi trường trong hoạt động dầu khí, các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền phải chỉ đạo khắc phục sự cố tràn dầu nhanh chóng, kịp thời: Trước hết phải tìm mọi biện pháp cứu người bị nạn ra khỏi vùng nguy hiểm; không cho dầu từ nguồn gây ô nhiễm do sự cố tiếp tục tràn ra môi trường xung quanh; trường hợp tai nạn đâm va tàu chở dầu hoặc vỡ khu chứa ùầu vầu nhanh chóng bằng mọi biện pháp san dầu và di chuyển đến nơi an toàn; trường hợp dầu tràn ra ngoài khơi xa bờ có thể xem xét dùng chất phân tán dầu nhằm ngăn không cho dầu có khả năng loang và gây ô nhiễm, đặc biệt là ở các vùng cửa sông là các khu vực nhạy cảm cần được ưu tiên bảo vệ môi trường hoặc dùng chất phân tán phải được sự đồng ý của Bộ tài nguyên và môi trường; chỉ đạo các lực lượng nhanh chóng bằng mọi biện pháp tổ chức thu gom váng dầu, cặn dầu làm sạch bờ biển; sự cố ttàn dầu xảy ra ở địa phương nào thì uỷ ban nhân dân địa phương đó chỉ đạo thực hiện, chính quyền địa phương cần huy động mọi lực lượng vũ trang, cảnh sát, phòng cháy chữa cháy… tham gia ứng cứu. Cơ quan đầu mối giúp chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo ứng phó sự cố tràn dầu là sở tài nguyên – môi trường tại địa phương.

Trường hợp sự cố vượt quá khả năng khắc phục của tỉnh, thành phố thì Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường phối hợp với thủ trưởng các cơ quan liên quan quyết định áp dụng biện pháp khắc phục và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Trường hợp sự cố tràn dầu ở quy mô lớn mang tính chất và phạm vi khu vực, liên tỉnh, Bộ tài nguyên và môi trường sẽ phối hợp với các ngành liên quan xin phép Thủ tướng Chính phủ đề nghị các đơn vị, tổ chức quốc tế về ứng phó tràn dầu ữong khu vực vào Việt Nam giúp đỡ ứng phó và Xử lý sự cố.

+ Định kì đánh giá hiện trạng môi trường trong hoạt động dầu khí

Xét dưới góc độ quản lí nhà nước, đây là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đánh giá, dự báo hiện ttạng về các thành phần môi trường trước sự ảnh hưởng của hoạt động dầu khí, xem xét vai trò của các cơ quan quản lí nhà nước trong việc giám sát sự ảnh hưởng của hoạt động dầu khí đối với môi trường, từ đó có các chính sách, kế hoạch bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí được hợp lí nhất.

Định kì đánh giá hiện trạng môi trường trong hoạt động dầu khí có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hiệu quả của công tác quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường ưong hoạt động dầu khí nói riêng, bảo vệ môi trường nói chung.

– Hoạt động này cung cấp các tư liệu khoa học về hiện ttạng các thành phần môi trường trong hoạt động dầu khí cũng như sự tác động, ảnh hưởng của các hoạt động dầu khí đối với môi trường. Dựa vào các tư liệu này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định được mức độ ảnh hưởng của hoạt động dầu khí tới chất lượng môi trường, xác định các chính sách, các giải pháp để hạn chế tới mức thấp nhất tác động xấu tới môi trường của hoạt động dầu khí, góp phần bảo vệ môi trường được hiệu quả hơn.

– Mặt khác, dựa vào các số liệu thu được từ hoạt động đánh giá hiện trạng môi trường mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định được thực ttạng công tác quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí để từ đó có giải pháp kiện toàn, nâng cao hiệu quả của nó. Định kì đánh giá hiện trạng môi trường ưong hoạt động dầu khí còn cung cấp những tư liệu khoa học cần thiết làm cơ sở cho việc giải quyết những ưanh chấp về môi trường trong hoạt động dầu khí, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của con người.

+ Thanh tra và Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ưong hoạt động dầu khí

Thanh tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi ttường ưong hoạt động dầu khí là quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí (chủ thể vi phạm, nguyên nhân vi phạm, hậu quả của hành vi vi phạm…) để từ đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Xử lý các hành vi vi phạm này bảo đảm hiệu lực cùa pháp luật ưên thực tế đồng thời phát hiện những bất cập của pháp luật hiện hành, góp phần hoàn thiện pháp luật.

4. Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí

Vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động dầu khí là những hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể tiến hành hoạt động dâu khí thực hiện, xâm hại các quan hệ pháp luật môi trường, thường gây ra những hậu quả ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường.

Vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động dầu khí rất đa dạng song phổ biến là các hành vi xả thải các chất thải, các hoá chất độc hại xuống các vùng nước cảng, tiến hành hoạt động dầu khí không tuân thủ các quy trình quy phạm kĩ thuật về bảo vệ môi trường; không có phương án phòng tránh các sự cố cháy, nô, rò, rỉ, tràn dầu; không có chứng chỉ kĩ thuật khi sử dụng hoá chất độc hại; không chịu sự kiểm tra, đánh giá về môi trường của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động dầu khí tuỳ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà có thể bị Xử lý ở các dạng trách nhiệm pháp lý như:

+ Trách nhiệm hình sự: áp dụng đối với các chủ thể hoạt động dầu khí vi phạm pháp luật có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

+ Trách nhiệm hành chính: Các hành vi vi phạm pháp luật môi trường toong hoạt động dầu khí mà không phải là tội phạm sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định ở Nghị định của Chính phủ số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính toong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nghị định của Chính phủ số 97/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí.

+ Trách nhiệm dân sự: Chủ thể hoạt động dầu khí vi phạm pháp luật môi trường phải chịu trách nhiệm dân sự với những nghĩa vụ cụ thể là chịu mọi chi phí khôi phục hiện trạng môi trường và bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra.

Luật GGL (sưu tầm & biên tập)

Đăng ký với GGL AI

Quý khách cần thêm thông tin có thể hỏi trực tiếp từ GGL AI hoặc đăng ký email bên cạnh

Vui lòng xem  đọc qui đình tại Chính Sách Quyền Riêng Tư