Giá ký kết hợp đồng xây dựng có thể vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo trong trường hợp những yêu cầu đặc biệt của dự án. Hợp đồng xây dựng có tính pháp lý như một văn bản pháp lý ràng buộc hai bên, đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ và quyền lợi.
Mục lục bài viết
Giá ký kết hợp đồng xây dựng có thể vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng trong trường hợp nào?
Giá ký kết hợp đồng xây dựng có thể vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng trong trường hợp có khối lượng phát sinh ngoài phạm vi công việc của gói thầu được người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép. Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 37/2015/NĐ-CP, giá ký kết hợp đồng không được vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng xây dựng, trừ khi có khối lượng phát sinh ngoài phạm vi công việc của gói thầu được người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép. Điều này cho phép giá ký kết hợp đồng xây dựng có thể vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng trong trường hợp có khối lượng phát sinh ngoài phạm vi công việc của gói thầu được người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép.
Giá ký kết hợp đồng xây dựng vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng thì bị phạt bao nhiêu?
Giá ký kết hợp đồng xây dựng vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng sẽ bị xử phạt từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Theo điểm a khoản 2 Điều 19 Nghị định 16/2022/NĐ-CP về vi phạm hợp đồng xây dựng, các bên trong hợp đồng xây dựng áp dụng giá ký kết hợp đồng vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng (trừ khối lượng phát sinh ngoài gói thầu được người quyết định đầu tư cho phép) sẽ bị xử phạt. Căn cứ khoản 3 Điều 4 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, mức phạt này được áp dụng đối với tổ chức. Đối với cá nhân, mức phạt tiền sẽ bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.
Hợp đồng xây dựng có tính pháp lý như thế nào?
Hợp đồng xây dựng có tính pháp lý cao nhất, được coi là cơ sở pháp lý để các bên tham gia thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi. Theo khoản 3 Điều 6 Nghị định 37/2015/NĐ-CP, hợp đồng xây dựng có hiệu lực pháp lý là cơ sở pháp lý cao nhất để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Nếu các bên chưa thỏa thuận trong hợp đồng, tranh chấp sẽ được giải quyết trên cơ sở các quy định của pháp luật có liên quan. Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan kiểm soát, cấp phát, cho vay vốn, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và các cơ quan có liên quan khác phải căn cứ vào nội dung hợp đồng xây dựng có hiệu lực pháp lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng.

