Giá sàn M3 là gì? Thẩm quyền thu giá trị nộp ngân sách nhà nước

Giá sàn nộp ngân sách bằng tiền (giá trị M3) là gì?

Giá sàn nộp ngân sách bằng tiền (giá trị M3) là giá trị nộp ngân sách nhà nước bằng tiền do nhà đầu tư đề xuất trong hồ sơ dự thầu, ngoài các nghĩa vụ của nhà đầu tư đối với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành. Giá trị M3 được xác định theo công thức: m3 = S x ΔG x k, trong đó S là diện tích phần đất có thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, quỹ đất dự kiến giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư; ΔG là giá trị tăng bình quân sau trúng đấu giá quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích; k là hệ số điều chỉnh giá trị tăng bình quân sau trúng đấu giá. Giá trị M3 được thu nhằm mục đích là khi tiến hành chỉ định thầu để lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án có sử dụng đất.

Theo Nghị định 25/2020/NĐ-CP, giá sàn nộp ngân sách nhà nước (m3) được bên mời thầu xác định và giá trị này được thu để tránh thất thoát cho ngân sách Nhà nước. Theo điểm k khoản 2 Điều 47 Nghị định 25/2020/NĐ-CP, giá sàn nộp ngân sách nhà nước (m3) được xác định là cơ sở để nhà đầu tư đề xuất nộp ngân sách nhà nước và độc lập với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nhà đầu tư phải nộp theo quy định của pháp luật về đất đai.

Cơ quan có thẩm quyền thu khoản giá trị nộp ngân sách nhà nước bằng tiền (M3) là các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính và ngân sách, như Tổng cục thuế, cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, và các cơ quan có liên quan khác.

Giá trị M3 có phải là tiền sử dụng đất hay không?

Giá trị M3 không phải là tiền sử dụng đất hay tiền bán tài sản đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo điểm c khoản 1 Điều 59 Nghị định 25/2020/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 8 Điều 108 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, giá trị M3 là giá trị nộp ngân sách nhà nước bằng tiền do nhà đầu tư đề xuất trong hồ sơ dự thầu, ngoài các nghĩa vụ của nhà đầu tư đối với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành.

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 60 Nghị định 25/2020/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 9 Điều 108 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, giá trị M3 được xác định là giá trị độc lập với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà nhà đầu tư phải nộp cho ngân sách nhà nước.

Từ đó, có thể thấy rằng giá trị M3 không chỉ là tiền sử dụng đất hay tiền bán tài sản đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mà còn là giá trị nộp ngân sách nhà nước do nhà đầu tư đề xuất trong hồ sơ dự thầu, ngoài các nghĩa vụ của nhà đầu tư đối với ngân sách nhà nước.

Theo đó, các nhà đầu tư cần phải phân biệt rõ giá trị M3 với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các nghĩa vụ khác đối với ngân sách nhà nước.

Cơ quan có thẩm quyền thu khoản giá trị nộp ngân sách nhà nước bằng tiền (M3)?

Cơ quan có thẩm quyền thu khoản giá trị nộp ngân sách nhà nước bằng tiền (M3) không thuộc về cơ quan thuế. Theo kết luận của Tổng cục thuế, giá trị M3 được đề xuất trong hồ sơ dự thầu là một khoản tiền được nộp cho cơ quan nhà nước có chức năng cùng với giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, không thuộc thẩm quyền thu của cơ quan thuế.

Theo Nghị định 25/2020/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 8 Điều 108 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, giá trị M3 không phải là tiền sử dụng đất quy định tại Nghị định 45/2014/NĐ-CP và Luật Quản lý thuế 2019. Không phải là tiền nộp ngân sách nhà nước từ bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công thuộc ngân sách nhà nước và Luật Quản lý thuế.

Theo đó, Tổng cục thuế đề nghị Cục thuế Đà Nẵng nghiên cứu trình Ủy ban nhân dân thành phố giao cơ quan có chức năng thu khoản giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện thu khoản giá trị nộp ngân sách nhà nước bằng tiền M3. Như vậy, hiện nay cơ quan thu khoản giá trị M3 này không phải là cơ quan thuế mà thuộc về cơ quan nhà nước khác, có chức năng cùng với giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Đăng ký với GGL AI

Quý khách cần thêm thông tin có thể hỏi trực tiếp từ GGL AI hoặc đăng ký email bên cạnh

Vui lòng xem  đọc qui đình tại Chính Sách Quyền Riêng Tư