Mục lục bài viết
Thưa luật sư, theo tôi hiểu thì khi ký kết hợp đồng vay thông thường hoặc vay tín dụng ngân hàng đều phải kiểm tra kỹ năng lực pháp lý của chủ thể ký kết hợp đồng. Vậy, quy định hiện nay về năng lực pháp lý của chủ thể ký hợp đồng vay như thế nào ? Cần lưu ý những gì ạ ? (Người hỏi: Thanh Hà, Tp)
Luật sư tư vấn:
Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi, vấn đề Bạn quan tâm căn cứ vào Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010; luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và nhiều văn bản pháp lý chuyên ngành khác có thể phân tích năng lực chủ thể của các bên tham gia ký kết, thực hiện hợp đồng cho vay như sau:
1.Các bên tham gia ký kết, thực hiện hợp đồng cho vay
1.1 Đối với bên cho vay (tổ chức tín đụng)
Năng lực pháp lý của chủ thể hợp đồng cho vay là khả năng của các bên thông qua các quyền và nghĩa vụ được luật định, cho phép, được tham gia vào các giao dịch vay, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung, các ngân hàng thương mại nói riêng, gắn liền với hoạt động kinh doanh tiền tệ, thuộc lĩnh vực kinh doanh đặc thù, có điều kiện theo sự thẩm tra, chấp thuận bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký thành lập (Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 29 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định số 01/2021/NĐ-CP)). Trong đó, các tổ chức tín dụng vốn dĩ là những đơn vị kinh tế, đa dạng về hình thức sở hữu, có địa vị pháp lý không đồng đều, mục tiêu cho vay vì các lợi ích khác nhau. Ngay tại các ngân hàng thương mại, những ngân hàng do Nhà nước bỏ vốn thành lập thường thực hiện chức năng điều tiết vốn, giải quyết tốt hơn các chủ trương, chính sách cho vay, các điều khoản cho vay cũng khá minh bạch. Vì vậy, trong từng hợp đồng cho vay được ký kết, các điều khoản hợp đồng cũng có những khác biệt, cho dù các quy định về điều khoản cơ bản của hợp đồng này đã được pháp luật đặt ra từ lâu.
Giao dịch cho vay của các ngân hàng thường được thực hiện trực tiếp thông qua các chi nhánh, phòng giao dịch, là những đơn vị phụ thuộc (khoản 1 Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2015). Những đơn vị phụ thuộc này không phải là chủ thể của hợp đồng cho vay, hoạt động theo sự ủy quyền của người đứng đầu pháp nhân trong phạm vi chức năng, quyền hạn được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước.
Đối với giao dịch vay có nhiều chủ thể, nhiều tổ chức tín dụng cùng tham gia cho vay, thực hiện dưối hình thức hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn. Hiện nay, pháp luật điều chỉnh quan hệ này đã linh hoạt đặt ra hai hình thức giao kết hợp đồng như sau: Hợp đồng hợp vốn được ký kết giữa các tổ chức tín dụng, với tư cách thành viên tham gia cấp tín dụng hợp vốn; và hợp đồng cho vay hợp vốn đối với khách hàng, do các thành viên tham gia ký kết hoặc ủy quyền cho thành viên đầu mối đại diện cho bên cấp tín dụng hợp vốn ký với khách hàng (Điều 11,12 Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp tín dụng hợp vốn của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng, được sửa đổi, bổ sung bồi Thông tư số 24/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016). Đồng thời, các quy định về cho vay hợp vốn cũng được mỗ rộng hơn, cho phép các tổ chức tín dụng (kể cả các tổ chức tín dụng nước ngoài) được cấp tín dụng hợp vốn để thực hiện dự án, đầu tư nước ngoài, được tự chủ trong các quyết định cho vay. Với sự tham gia của nhiều tổ chức tín dụng, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể này không chỉ dừng lại ở tổ chức tín dụng đầu mối, đó còn là sự liên đới trách nhiệm, cơ chế kiểm soát tín dụng với nhau vốn dĩ vẫn chưa được pháp luật quy định chặt chẽ. Nếu đơn thuần chỉ dựa trên sự tự do thỏa thuận, quan hệ này sẽ không tránh khỏi sự bất bình đẳng giữa các chủ thể cấp tín dụng, vẫn còn thiếu một cơ chế đồng thuận kiểm soát hợp đồng cấp tín dụng đạt hiệu quả.
Đối với công ty tài chính (một dạng tổ chức tín dụng có chức năng cấp tín dụng tiêu dùng với hạn mức giới hạn), pháp luật hiện hành đã trao quyền, cho phép tiến hành cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng (khoản 1 Điều 2; khoản 1 Điều 3 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cho vay tiêu dùng của công ty tài chính, được sửa đổi, bổ sung bởi
Thông tư số 18/2019/TT-NHNN ngày 04/11/2019 (Thông tư số 43/2016/TT-NHNN)). Vì vậy, nghiên cứu, sửa đổi các quy định về chủ thể, phạm vi hoạt động cho vay tiêu dùng, theo tác giả không chỉ dừng lại ở việc phân bổ lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng, đó còn là tính phù hợp của từng nhóm đối tượng vay được pháp luật can thiệp, điều chỉnh; quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho bên vay tiêu dùng; không nên phân biệt chủ thể cho vay là các ngân hàng thương mại hay các công ty tài chính, như pháp luật các nước thường đế cập (Vấn đề này được tác giả quan tâm, đưa ra các kiến nghị sửa đổi luật dựa trên kinh nghiệm của pháp luật một số nước trên thế giới của cả hai hệ thống luật điều chỉnh hoạt động cho vay tiêu dùng).
Đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng khác có chức năng cho vay, có những đặc thù riêng, không chịu sự kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước như các ngân hàng thương mại, hoạt động của các tổ chức tín dụng này nhằm bảo vệ tài chính, phân tán rủi ro, tương hỗ… không được cuốn sách này đi sâu đề cập, nghiên cứu.
2. Người đại diện của các bên ký kết hợp đồng cho vay
Năng lực của người đại diện được thực hiện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.
2.1 Đại diện theo pháp luật
Hình thức đại diện do pháp luật quy định, hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định (quy định tại các Điều 134, 135, 136 Bộ luật Dân sự năm 2015).
– Đối với tổ chức: Người đại diện theo pháp luật là những người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ, người có thẩm quyền đại diện theo pháp luật, người do Tòa án chỉ định trong quá trình tham gia các hoạt động tố tụng tại tòa án (khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Điểm mới hiện nay, pháp luật doanh nghiệp cho phép các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật để thuận lợi cho việc xác lập các giao dịch, nhân danh công ty quản lý, điều hành khi người đại diện khác đi vắng, nhưng phải ghi trong điều lệ công ty (khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Quy định này có những ưu điểm như được đánh giá “giúp hai loại công ty này có thêm khả năng duy trì năng lực hành vi”. Song, quy định cũng làm tăng trách nhiệm của bên cho vay (ngân hàng) khi thẩm tra, đánh giá năng lực của bên vay là doanh nghiệp, khó xác định thẩm quyền của người ký kết hợp đồng cho vay hợp pháp.
Thật vậy, với các viện dẫn cho thấy, năng lực của người đại diện theo pháp luật đến đâu gần như hoàn toàn phụ thuộc vào quy định nội bộ của chính doanh nghiệp đó. Các tổ chức tín dụng giờ đây khi cho vay phải có trách nhiệm tìm hiểu, xác minh cá nhân nào là người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (bên vay), có quyền quyết định và ký kết hợp đồng cho vay, thay vì chỉ đơn thuần dựa vào thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ghi tên duy nhất một người đại diện pháp luật như trước. Đây là công việc phức tạp, khó thực hiện, khó tránh xảy ra tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng quy định để tạo “bẫy” vô hiệu đối với các giao dịch vay do người dưới quyền xác lập, nếu giao dịch ấy không đem lại lợi ích cho họ.
– Đối với cá nhân: Đó là cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ; người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được tòa án chỉ định; người do tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015).
2.2 Đại diện theo ủy quyền
Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015). Văn bản ủy quyền phải được lập thành hợp đồng (Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015), có sự đồng ý của bên nhận ủy quyền (bên thụ ủy).
Về nguyên tắc, người đại điện theo ủy quyền chỉ được thực hiện công việc trong phạm vi được ủy quyền, nếu vượt quá phạm vi ủy quyền, sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ đối với người ủy quyền. Đối với người đứng đầu đơn vị phụ thuộc pháp nhân (chi nhánh, văn phòng đại diện), năng lực, thẩm quyền cùa cá nhân này được kiểm tra công nhận của cơ quan đăng ký kinh doanh, đương nhiên họ là người đại diện trong các giao dịch nhân danh pháp nhân đó. Tòa án khi giải quyết tranh chấp hợp đồng cho vay thường yêu cầu những người nêu trên phải có giấy ủy quyền tham gia khi tố tụng (tranh chấp đưa ra các cơ quan tài phán giải quyết), là không phù hợp, làm gia tăng rủi ro do phát sinh những văn bản ủy quyền trái pháp luật.
Trong quan hệ tố tụng, bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài xác định sai tư cách chủ thể hợp đồng, sẽ dẫn đến xác định sai tư cách đương sự tham gia tố tụng. Phán quyết của các cơ quan này có thể bị tuyên hủy bỏ, bị chỉnh sửa như nhiều bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài đã công bôí

