Theo quy định, nếu tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, sẽ bị phạt. Thời hiệu xử phạt là 2 năm kể từ ngày hết hạn thanh lý dự án.
Mục lục bài viết
- Tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước thì bị phạt như thế nào?
- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước là bao lâu?
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước không?
Tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước thì bị phạt như thế nào?
Theo quy định tại Nghị định 122/2021/NĐ-CP, tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước sẽ bị phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Đồng thời, còn bị buộc thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với hành vi vi phạm quy định trên.
Theo điểm b khoản 2, điểm c khoản 4 Điều 19 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước sẽ bị phạt. Căn cứ theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước sẽ bị phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Tóm lại, tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước sẽ bị phạt tiền và buộc thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với hành vi vi phạm quy định trên.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước là bao lâu?
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 122/2021/NĐ-CP. Theo đó, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước là 01 năm. Trong thời gian này, hành vi vi phạm sẽ được phát hiện và xử phạt nếu tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Theo quy định trên, thời gian 01 năm tính từ ngày xảy ra vi phạm đến ngày phát hiện vi phạm. Nếu quá thời hạn này, tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước không?
Theo quy định tại Nghị định 122/2021/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Theo khoản 2 Điều 77 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân và tổ chức trong phạm vi thẩm quyền được quy định. Tuy nhiên, đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, theo Điều 78 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, có thể bị phạt tiền cao nhất 100.000.000 đồng và buộc thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với hành vi vi phạm quy định trên.
Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam không thực hiện thủ tục thanh lý dự án đầu tư và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, mà phải chuyển đến các chức năng khác có thẩm quyền để xử lý vi phạm.

