Theo quy định, bảo đảm thực hiện dự án đầu tư phải được thực hiện trước khi ký kết hợp đồng hoặc khi hợp đồng có hiệu lực. Số tiền bảo đảm thực hiện dự án chưa được hoàn trả được nộp vào ngân sách nhà nước trong trường hợp nhà thầu từ chối thực hiện hợp đồng, vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng hoặc thực hiện hợp đồng chậm tiến độ do lỗi của mình.
Mục lục bài viết
Bảo đảm thực hiện dự án đầu tư được quy định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 43 Luật Đầu tư 2020, bảo đảm thực hiện dự án đầu tư được quy định như sau: Nhà đầu tư phải ký quỹ hoặc phải có bảo lãnh ngân hàng về nghĩa vụ ký quỹ để bảo đảm thực hiện dự án đầu tư có đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, trừ các trường hợp sau đây: nhà đầu tư trúng đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhà đầu tư trúng đấu thầu thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất; nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên cơ sở nhận chuyển nhượng dự án đầu tư đã thực hiện ký quỹ hoặc đã hoàn thành việc góp vốn, huy động vốn theo tiến độ quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư trên cơ sở nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất khác.
Căn cứ vào quy mô, tính chất và tiến độ thực hiện của từng dự án đầu tư, mức ký quỹ để bảo đảm thực hiện dự án đầu tư từ 01% đến 03% vốn đầu tư của dự án đầu tư. Đối với dự án đầu tư gồm nhiều giai đoạn đầu tư, số tiền ký quỹ được nộp và hoàn trả theo từng giai đoạn thực hiện dự án đầu tư, trừ trường hợp không được hoàn trả.
Số tiền bảo đảm thực hiện dự án đầu tư chưa được hoàn trả được nộp vào ngân sách nhà nước trong trường hợp nhà thầu từ chối thực hiện hợp đồng, vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng hoặc thực hiện hợp đồng chậm tiến độ do lỗi của mình, hoặc trong trường hợp dự án đầu tư không được thực hiện do lý do không thuộc trách nhiệm của nhà thầu.
Số tiền bảo đảm thực hiện dự án chưa được hoàn trả được nộp vào ngân sách nhà nước trong trường hợp nào?
Theo quy định tại khoản 10 Điều 26 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, số tiền bảo đảm thực hiện dự án chưa được hoàn trả được nộp vào ngân sách nhà nước trong các trường hợp sau:
* Dự án bị chậm tiến độ và không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép điều chỉnh tiến độ theo quy định của Luật Đầu tư 2020 và Nghị định 31/2021/NĐ-CP.
* Dự án bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Đầu tư 2020, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 47 Luật Đầu tư 2020.
Theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, việc hoàn trả, điều chỉnh, chấm dứt nghĩa vụ bảo đảm thực hiện dự án được quy định như sau:
* Hoàn trả 50% số tiền đã ký quỹ hoặc giảm 50% mức bảo lãnh tại thời điểm nhà đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoặc chấp thuận khác để thực hiện hoạt động xây dựng (nếu có).
* Hoàn trả số tiền ký quỹ còn lại và tiền lãi phát sinh từ số tiền ký quỹ (nếu có) hoặc chấm dứt hiệu lực của bảo lãnh nghĩa vụ ký quỹ tại thời điểm nhà đầu tư đã hoàn thành việc nghiệm thu công trình xây dựng.
* Trường hợp giảm vốn đầu tư của dự án, nhà đầu tư được hoàn trả số tiền ký quỹ tương ứng với số vốn đầu tư giảm theo quy định tại Quyết định chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh.
* Trường hợp điều chỉnh tăng vốn đầu tư của dự án, nhà đầu tư nộp bổ sung số tiền ký quỹ hoặc bổ sung bảo lãnh ký quỹ của tổ chức tín dụng tương ứng với số vốn đầu tư tăng theo quy định tại quyết định chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh.
Trong trường hợp đã được hoàn trả 50% tiền ký quỹ đã nộp trước khi điều chỉnh, nhà đầu tư chỉ phải nộp số tiền bằng 50% số tiền ký quỹ phải nộp bổ sung.
Ngoài ra, trường hợp dự án đầu tư không thể tiếp tục thực hiện vì lý do bất khả kháng hoặc do việc thực hiện thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc do dự án phải điều chỉnh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp thay đổi quy hoạch thì nhà đầu tư được xem xét hoàn trả số tiền bảo đảm nghĩa vụ thực hiện dự án hoặc chấm dứt nghĩa vụ bảo đảm thực hiện dự án.
Mức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư được xác định như thế nào?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, mức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư được xác định dựa trên mức vốn đầu tư của dự án. Cụ thể:
- Đối với phần vốn đầu tư từ 0 đến 300 tỷ đồng, mức bảo đảm là 3% của phần vốn đó.
- Đối với phần vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng, mức bảo đảm là 2% của phần vốn đó.
- Đối với phần vốn đầu tư trên 1.000 tỷ đồng, mức bảo đảm là 1% của phần vốn đó.
Theo quy định, mức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên vốn đầu tư của dự án đầu tư, được tính lũy tiến từng phần. Điều này nghĩa là, mức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư sẽ tăng dần theo mức vốn đầu tư của dự án.
Ví dụ, nếu dự án đầu tư có vốn đầu tư là 500 tỷ đồng, mức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư sẽ được tính như sau:
- Phần vốn đầu tư đến 300 tỷ đồng: 3% x 300 tỷ đồng = 9 tỷ đồng
- Phần vốn đầu tư trên 300 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng: 2% x (1.000 tỷ đồng – 300 tỷ đồng) = 4 tỷ đồng
- Tổng mức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư: 9 tỷ đồng + 4 tỷ đồng = 13 tỷ đồng
Do đó, mức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư của dự án này là 13 tỷ đồng.

