Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, Bộ luật tố tụng hình sự là văn bản luật được Quốc hội ban hành, quy định trình tự, thủ tục, nội dung tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và những quan hệ pháp luật khác nảy sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bộ luật này quy định các quy tắc, nguyên tắc và các thủ tục tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự được công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và tuân thủ pháp luật.
Mục lục bài viết
- Quy định chung của Bộ luật Tố tụng Hình sự
- Quy định tố tụng dân sự trước 1945
- Pháp lý Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám: Phát triển và đổi thay
- Xây dựng Pháp Luật Việt Nam: Giai đoạn Xây dựng và Phát triển (1975-1988)
- Phát triển hệ thống tư pháp Việt Nam sau năm 1989: Đóng góp cho công lý và an toàn xã hội
Quy định chung của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Theo quy định tại Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2015, được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Bộ luật này thay thế Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, gồm 517 điều, được bố cục thành 10 phần, 42 chương. So với Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (BLTTDS năm 2011), BLTTDS năm 2015 giữ nguyên 63 điều; sửa đổi, bổ sung 350 điều; bổ sung mới 104 điều; bãi bỏ 07 điều. Với nhiều quy định mới, quan trọng liên quan trực tiếp đến hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khi tham gia tố tụng, có tác động đến hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức và cá nhân tham gia tố tụng.
Quy định tố tụng dân sự trước 1945
Theo quan điểm của các chuyên gia pháp lý, luật tố tụng hình sự nước ta đã trải qua một quá trình phát triển dài và phức tạp, mang lại những bằng chứng về việc tồn tại của luật tố tụng hình sự trong chế độ phong kiến. Tuy nhiên, luật tố tụng hình sự với tư cách là ngành luật độc lập và hoàn thiện như hiện nay thì chỉ được hình thành và phát triển từ sau năm 1945. Trước đó, các quy định về luật tố tụng hình sự được gộp chung với các quy định của luật hình sự, đất đai, hôn nhân và gia đình.
Theo các văn bản lịch sử và pháp lý mới nhất, các triều đại phong kiến Việt Nam đã áp dụng rộng rãi các quy định về luật tố tụng hình sự để bảo vệ lợi ích của mình. Đáng chú ý là các văn bản pháp lý như “Hình thư triều Lý”, “Quốc triều hình luật”, “Hoàng Việt luật lệ” và các văn bản khác, đều chứa đựng các quy định về tố tụng hình sự, bao gồm quy định về điều tra, xét xử, thi hành án… mặc dù chưa có hệ thống pháp lý thống nhất như hiện nay.
“Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng hay có thù oán thì không cho phép ra làm chứng. Nếu những người ẩy giấu giếm ra làm chứng thì bị ghép vào tội không nói đúng sự thực. Hình quan, ngục quan biết điều đó mà dung túng việc đó đều bị íợỉ”.
Theo quy định của pháp luật, khi thực hiện lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra án phải thực hiện một cách thận trọng và nghiêm túc, tìm ra sự thật để giúp người phạm tội nhận tội. Không được hỏi quá rộng hoặc tìm đến người ngoài để tìm chứng cứ giả, vì vậy, nếu vi phạm quy định này, người phạm tội có thể bị xử phạt. Ngoài ra, Quốc triều hình luật còn quy định về thủ tục xét xử, thời hạn xét xử và thủ tục thi hành án. Theo Điều 658 của Quốc triều hình luật, quy định về thủ tục xét xử và thi hành án phải được thực hiện trong thời hạn nhất định, nếu không có lý do chính đáng, người phạm tội có thể bị trả tự do.
“Những tù bị giam, kẻ nào đáng giam mà không giam, đảng gông cùm mà không gông cùm; hay cho bỏ cùm, nếu tù phạm tội biếm thì người coi tù bị phạt 60 trượng; nếu kẻ phạm tội đồ trở lên thì sẽ xử tăng dần một bậc. Những tù phạm không đảng giam mà giam, không đáng gông cùm mà gông cùm thì người coi tù bị phạt 70 trượng”.
Theo Hoàng Việt luật lệ, triều đình nhà Nguyễn đã quy định và áp dụng các quy phạm luật tố tụng hình sự, chứng tỏ triều đình có sự quan tâm và coi trọng về hình thức tổ chức kiện tụng, xét xử. Điều này cho thấy rằng, ngay từ thời kỳ phong kiến, Việt Nam đã có những quy định về tố tụng hình sự, mặc dù chưa có hệ thống pháp lý thống nhất như hiện nay. GGL.
Trong thời kỳ thuộc địa, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng của pháp luật phong kiến và pháp luật tư sản của Pháp, dẫn đến sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật tư pháp. Ở thời điểm đó, pháp luật Việt Nam đã được phân định thành các ngành luật, trong đó có ngành luật tố tụng hình sự. Điều này thể hiện sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp và tư sản đối với pháp luật Việt Nam, và cũng cho thấy sự phát triển của hệ thống pháp luật tư pháp trong nước. Theo Nghị quyết số 36/2009/QH12 của Quốc hội, về cải cách tư pháp, Việt Nam đã thừa nhận và triển khai những cải cách về tư pháp, bao gồm cải cách pháp luật tố tụng hình sự, nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển một hệ thống pháp lý hiện đại, dân chủ và công bằng. GGL.
Trong thời kỳ thuộc địa, pháp luật Việt Nam được pháp điển hóa và được thực hiện cho đến năm 1945. Theo Điều 714 của Quốc triều hiến luật, pháp luật Việt Nam đã được chia thành các vùng, mỗi vùng có pháp luật riêng. Tại Nam Kỳ, Bộ luật hình sự tố tụng của Pháp được áp dụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người Pháp. Trong trường hợp bị can, bị cáo là người Việt Nam, thì tòa án cũng áp dụng Bộ luật này đồng thời áp dụng bổ sung một số quy định trong các sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Tại Bắc Kỳ, trong thời kỳ này, áp dụng Bộ luật hình sự tố tụng được ban hành ngày 01/11/1918, còn tại Trung Kỳ, áp dụng Bộ luật hình sự tố tụng được ban hành vào năm 1935. GGL.
Pháp lý Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám: Phát triển và đổi thay
Luật tố tụng hình sự Việt Nam đã hình thành và phát triển gắn liền với những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám, đã có những quy định về tố tụng hình sự, như Chỉ thị ngày 16/4/1945 của Tổng bộ Việt Minh quy định về lề lối làm việc của tiểu ban tư pháp và thẩm quyền xét xử của các tiểu ban này.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo đảm cho việc xử lí tội phạm được kịp thời, Nhà nước đã ban hành một系列 sắc lệnh, bao gồm Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 quy định việc thành lập toà án quân sự và được bổ sung bằng Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946. Điều 1 của Sắc lệnh số 21 quy định: “Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử các tội phạm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”.
Trong khi tiến hành xét xử, các toà án quân sự đã quán triệt chính sách trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục và cải tạo. Ban đầu, việc xét xử những vụ án hình sự thường do Ủy ban nhân dân đảm nhiệm. Sau đó, theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, các vụ án này do toà án thường xét xử với sự tham gia của phụ thẩm nhân dân. Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 đã đổi tên toà án thường thành toà án nhân dân.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tố tụng hình sự được quy định tại Luật Tố tụng Hình sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Luật này đã quy định rõ các thủ tục tố tụng hình sự, bao gồm việc khởi tố, điều tra, xét xử và thi hành án. GGL.
Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, trong giai đoạn xây dựng và phát triển nền tảng pháp lý xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc, pháp luật tố tụng hình sự đã được đặc biệt quan tâm. Quốc hội đã thông qua một số đạo luật quan trọng về tự do dân chủ, trong đó có Luật số 103 SL/L005 ngày 20/5/1957, bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân.
Năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao và hệ thống các toà án địa phương, Viện công tố trung ương cùng hệ thống viện công tố các cấp, để đảm bảo việc xét xử và xử lí các vụ án hình sự được kịp thời và hiệu quả. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành, quy định rõ các nguyên tắc và phương pháp hoạt động của hệ thống tòa án và viện kiểm sát.
Việc bầu cử thẩm phán thay thế chế độ chính phủ bổ nhiệm thẩm phán, nhằm đảm bảo tính độc lập và tính khách quan trong hoạt động của hệ thống tòa án. GGL.
Theo pháp luật hiện hành, pháp luật tố tụng hình sự được quy định tại Luật Tố tụng Hình sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Luật này đã quy định rõ các thủ tục tố tụng hình sự, bao gồm việc khởi tố, điều tra, xét xử và thi hành án, cũng như các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tố tụng và các cơ quan chức năng.
Xây dựng Pháp Luật Việt Nam: Giai đoạn Xây dựng và Phát triển (1975-1988)
Sau ngày giải phóng, tại miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc lệnh số 01 SL/76 ngày 15/3/1976 về tổ chức Toà án nhân dân, nhằm thiết lập hệ thống Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, đảm bảo việc xét xử và thi hành án nghiêm minh, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân.
Theo Sắc lệnh số 01 SL/76, Toà án nhân dân miền Nam được tổ chức theo hệ thống các Toà án khu vực, Toà án tỉnh và Toà án cấp cao, với các chức năng xét xử các vụ án, giải quyết các tranh chấp và thi hành án. Viện kiểm sát nhân dân cũng được thiết lập để đảm bảo việc thực hiện pháp luật, chống lại tội phạm và bảo vệ công lý.
GGL.
Khi Việt Nam thống nhất về mặt nhà nước, hệ thống Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trên toàn quốc được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1981. Đây là những văn bản pháp luật mới được thông qua sau khi Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực.
Theo Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1981, Toà án nhân dân được tổ chức thành các cấp, bao gồm Toà án cấp cao, Toà án tỉnh và Toà án khu vực, với chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự và hành chính. Viện kiểm sát nhân dân cũng được tổ chức và hoạt động để đảm bảo việc thực hiện pháp luật, chống lại tội phạm và bảo vệ công lý.
GGL.
Phát triển hệ thống tư pháp Việt Nam sau năm 1989: Đóng góp cho công lý và an toàn xã hội
Trong bối cảnh Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Việt Nam đã triển khai công cuộc đổi mới toàn diện, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, quá trình tố tụng cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố và xét xử. Do đó, việc ban hành Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) là vấn đề cấp thiết, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Theo BLTTHS năm 2015, các quy định về tố tụng hình sự được sửa đổi, bổ sung, nhằm đảm bảo việc điều tra, truy tố và xét xử được thực hiện đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa.
Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã trải qua một quá trình phát triển và đổi mới, đáp ứng nhu cầu của xã hội và đòi hỏi của công dân. Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS). BLTTHS có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989.
BLTTHS được ban hành với mục đích bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bộ luật quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, nhằm xử lí công minh, kịp thời tội phạm và người phạm tội. BLTTHS cũng có mục đích tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ của mình, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và quyền lợi của công dân.
Theo BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), quy định về tố tụng hình sự được sửa đổi, bổ sung, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Trên tinh thần lấy dân làm gốc, đồng thời đáp ứng nhu cầu bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lí kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội, Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 1988 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều trong xung quanh.
Tại kì họp thứ bảy, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, ngày 30/6/1990, BLTTHS đã được sửa đổi, bổ sung những điều mới, bao gồm Điều 42a quy định về người bảo vệ quyền lợi của đương sự, Điều 168a quy định về thời hạn hoãn phiên toà, và Điều 215a quy định về việc tòa án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.
Sửa đổi lần này đã bổ sung thêm 35 điều luật trong tổng số 286 điều luật, giúp Bộ luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, đề cao vai trò của các tổ chức xã hội và công dân trong tố tụng hình sự. Điều này đã kết hợp sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa với sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Theo sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), Bộ luật đã được điều chỉnh và hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Sau một thời gian thi hành, dựa trên thực tiễn tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự và Hiến pháp năm 1992, để khắc phục những vướng mắc và thiếu sót trong quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) đối với việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX tại kì họp thứ 9 đã quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (lần thứ hai) vào ngày 22/12/1992.
Theo đó, BLTTHS đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình mới và nguyện vọng của nhân dân, đồng thời phù hợp với Hiến pháp năm 1992. Cụ thể, BLTTHS đã được bổ sung thêm ba điều mới là:
- Điều 143a quy định về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
- Điều 143b quy định về đình chi hoặc tạm đình chi vụ án;
- Điều 160a quy định về thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm.
Ngoài ra, BLTTHS cũng đã được sửa đổi, bổ sung 5 điều luật khác, bao gồm Điều 11, Điều 20, Điều 43, Điều 53 và Điều 65, để đảm bảo tính thống nhất và hợp lý trong quy định của BLTTHS.
Theo sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), BLTTHS đã được hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Với sự ra đời của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000, nhiều quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) hiện hành đã trở thành không còn phù hợp nữa. Do vậy, ngày 09/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (lần thứ ba).
Theo đó, BLTTHS đã được bổ sung thêm hai điều mới là:
- Điều 110a quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;
- Điều 234a quy định về thi hành hình phạt trục xuất.
Tương ứng, các điều khoản sau đã được bỏ:
- Các khoản 3, 4 Điều 145 quy định về thẩm quyền xét xử của tòa án các cấp;
- Điều 160a quy định về thành phần xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm;
- Điểm a khoản 1 Điều 226 quy định về những bản án và quyết định được thi hành.
Ngoài ra, BLTTHS lần này đã sửa đổi, bổ sung 21 điều luật và sửa đổi một số điều khoản của BLHS năm 1985 thành điều khoản tương ứng của BLHS năm 1999 được viện dẫn trong BLTTHS.
Sau ba lần sửa đổi, BLTTHS năm 1988 đã gồm 293 điều. Tuy nhiên, lần này, BLTTHS chỉ tập trung vào một số những quy định nhằm thực hiện BLHS năm 1999; giải quyết một số vấn đề bức xúc cần khắc phục trong quá trình tố tụng nhằm nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS lần này được thực hiện “dựa trên nguyên tắc không hạn chế quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời bảo đảm hoạt động có hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới”.
Qua gần 15 năm thi hành với ba lần sửa đổi, bổ sung, BLTTHS năm 1988 là căn cứ pháp lí để cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án tiến hành các hoạt động của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, góp phần bảo đảm việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Theo quy định tại Điều 1 của BLTTHS năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, BLTTHS năm 1988 được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng nhu cầu của việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự.
Theo đó, BLTTHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung để tăng cường quyền của người bị buộc tội, người bị hại, và người tham gia tố tụng khác, cũng như để nâng cao hiệu quả của việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Đồng thời, BLTTHS năm 2015 cũng đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về tố tụng hình sự.
GGL: BLTTHS năm 1988 là căn cứ pháp lí để cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án tiến hành các hoạt động của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, góp phần bảo đảm việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới toàn diện của đất nước, bao gồm cải cách tư pháp và sự phát triển của pháp luật, BLTTHS năm 1988 đã trở thành mộtorneys của quá khứ, không còn phù hợp với nhu cầu của xã hội và đã bộc lộ một số hạn chế nhất định. Theo quy định tại Điều 1 của BLTTHS năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, các quy định của BLTTHS năm 1988 đã được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng nhu cầu của việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự.
Theo đó, BLTTHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung để tăng cường quyền của người bị buộc tội, người bị hại, và người tham gia tố tụng khác, cũng như để nâng cao hiệu quả của việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Đồng thời, BLTTHS năm 2015 cũng đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về tố tụng hình sự.
GGL: BLTTHS năm 1988 đã trở thành mộtorneys của quá khứ, không còn phù hợp với nhu cầu của xã hội và đã bộc lộ một số hạn chế nhất định.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Theo đó, Nghị quyết đã đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm để tập trung vào việc cải thiện, nâng cao hiệu quả công tác tư pháp, phương hại đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết, các cơ quan tư pháp, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án phải tăng cường sự phối hợp, hợp tác để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về hoạt động tư pháp, bao gồm việc tăng cường công tác điều tra, truy tố và xét xử, cải thiện trình độ, năng lực của công chức, người làm việc trong các cơ quan tư pháp, và nâng cao hiệu quả công tác tố tụng hình sự.
GGL: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được tổ chức và bố cục theo các quy định mới nhất, bao gồm:
… (tóm tắt các chương và đề mục của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015)
Theo quy định tại Điều … của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, các quy định về tố tụng hình sự đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn, tạo điều kiện cho việc xét xử công minh, kịp thời và đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
Phần thứ nhất của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Những quy định chung, bao gồm 8 chương (từ Điều 1 đến Điều 142), quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của Bộ luật; những nguyên tắc cơ bản; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng; bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; chứng minh và chứng cứ; biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng.
Theo quy định tại Điều 1 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Bộ luật này quy định về các quy định về tố tụng hình sự, bao gồm các quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của Bộ luật; những nguyên tắc cơ bản; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng; bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; chứng minh và chứng cứ; biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
- Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự gồm có 9 chương (từ Điều 143 đến Điều 235) quy định về khởi tố vụ án hình sự; những quy định chung về điều tra vụ án hình sự; khởi tố và hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất, nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết ưên thân thể, thực nghiệm điều tra; giám định và định giá tài sản; biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; tạm đình chỉ điều ưa và kết thúc điều ưa.
Phần thứ ba của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Truy tố, bao gồm 2 chương (từ Điều 236 đến Điều 249), là những quy định chung về việc truy tố bị can và quyết định việc truy tố bị can.
Theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, việc truy tố là một trong những giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (tức là Viện trưởng Viện kiểm sát) quyết định việc truy tố bị can hoặc đình chỉ việc truy tố bị can.
Chương 2 của Phần thứ ba, Quyết định việc truy tố bị can, quy định về các quy trình và điều kiện để quyết định việc truy tố bị can, bao gồm quy định về việc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định việc truy tố bị can, nguyên tắc và điều kiện để quyết định việc truy tố bị can, các trường hợp được đình chỉ việc truy tố bị can và các quy định khác.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
Phần thứ tư của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Xét xử vụ án hình sự, bao gồm 3 chương (từ Điều 250 đến Điều 362), là những quy định về các giai đoạn xét xử vụ án hình sự, đảm bảo công bằng, khách quan và kịp thời trong việc xét xử các vụ án hình sự.
Chương 1 của Phần thứ tư, Những quy định chung về xét xử vụ án hình sự, quy định về các nguyên tắc và chế độ xét xử vụ án hình sự, bao gồm quy định về thẩm quyền xét xử, hình thức xét xử, người có thẩm quyền xét xử, thời hạn xét xử và các quy định khác.
Chương 2 của Phần thứ tư, Xét xử sơ thẩm, quy định về các quy trình và điều kiện để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bao gồm quy định về việc người có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử, nguyên tắc và điều kiện để xét xử sơ thẩm, các trường hợp được xét xử sơ thẩm và các quy định khác.
Chương 3 của Phần thứ tư, Xét xử phúc thẩm, quy định về các quy trình và điều kiện để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, bao gồm quy định về việc người có thẩm quyền xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử, nguyên tắc và điều kiện để xét xử phúc thẩm, các trường hợp được xét xử phúc thẩm và các quy định khác.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
Phần thứ năm của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của tòa án, bao gồm 2 chương (từ Điều 363 đến Điều 369), quy định về các vấn đề liên quan đến thi hành bản án, quyết định của tòa án.
Chương 1 của Phần thứ năm, Bản án, quyết định được thi hành ngay, quy định về thẩm quyền của tòa án trong việc ra quyết định thi hành bản án, quyết định ngay sau khi bản án, quyết định được tuyên. Theo đó, tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành bản án, quyết định ngay nếu bản án, quyết định được tuyên về các vấn đề về tội phạm, punishment và bồi thường thiệt hại.
Chương 2 của Phần thứ năm, Thi hành án tử hình, xét tha tù có điều kiện trước thời hạn, xoá án tích, quy định về các thủ tục và điều kiện để thi hành án tử hình, xét tha tù có điều kiện trước thời hạn và xoá án tích. Theo đó, người bị kết án tử hình phải được thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp được xét tha tù có điều kiện trước thời hạn. Cũng theo quy định này, người bị kết án tử hình có thể được xoá án tích nếu đã chấp hành xong bản án và có thể được tái hoà nhập vào xã hội.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
Phần thứ sáu của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm 3 chương (từ Điều 370 đến Điều 412), quy định về các vấn đề liên quan đến việc xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Chương 1 của Phần thứ sáu, Giám đốc thẩm, quy định về thủ tục giám đốc thẩm, bao gồm việc kháng cáo, xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Theo đó, người bị kết án có thể kháng cáo bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật để yêu cầu giám đốc thẩm, trong trường hợp bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật vi phạm pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người bị kết án hoặc có lợi cho người phạm tội.
Chương 2 của Phần thứ sáu, Tái thẩm, quy định về thủ tục tái thẩm, bao gồm việc xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp có mới phát hiện được chứng cứ mới, chứng cứ đó có thể gây ảnh hưởng đến kết quả xét xử ban đầu.
Chương 3 của Phần thứ sáu, Xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, quy định về thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, bao gồm việc sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm. Theo đó, quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao có thể được xem xét lại trong trường hợp quyết định đó vi phạm pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người bị kết án hoặc có lợi cho người phạm tội.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
Phần thứ bảy của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Thủ tục đặc biệt, bao gồm 7 chương (từ Điều 413 đến Điều 490), quy định về các vấn đề liên quan đến thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt.
Chương 1 của Phần thứ bảy, Tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, bao gồm việc xác định người dưới 18 tuổi có thể chịu trách nhiệm hình sự hay không, và nếu có, thì phải áp dụng các quy định đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của người dưới 18 tuổi.
Chương 2 của Phần thứ bảy, Truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân, quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân, bao gồm việc xác định pháp nhân có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, và nếu có, thì phải áp dụng các quy định đặc biệt để truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân.
Chương 3 của Phần thứ bảy, Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, quy định về thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cho người phạm tội, bao gồm việc xác định người phạm tội có cần phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hay không, và nếu có, thì phải áp dụng các quy định đặc biệt để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Chương 4 của Phần thứ bảy, Thủ tục rút gọn, quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, bao gồm việc rút gọn các thủ tục tố tụng hình sự để xử lí các trường hợp phạm tội nghiêm trọng.
Chương 5 của Phần thứ bảy, Xử lí các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự, quy định về xử lí các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự, bao gồm việc xử lí các hành vi xâm phạm quyền lợi của người tham gia tố tụng và các hành vi khác gây cản trở hoạt động tố tụng hình sự.
Chương 6 của Phần thứ bảy, Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, quy định về thủ tục khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hình sự, bao gồm việc khiếu nại và tố cáo các quyết định và hành vi của người tham gia tố tụng.
Chương 7 của Phần thứ bảy, Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong tố tụng hình sự, bao gồm việc bảo vệ quyền lợi và an toàn cho người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
Phần thứ tám của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hợp tác quốc tế, bao gồm 2 chương (từ Điều 491 đến Điều 508), quy định về các vấn đề liên quan đến hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.
Chương 1 của Phần thứ tám, Quy định chung về hợp tác quốc tế, quy định về nguyên tắc, phương pháp và phạm vi của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, bao gồm việc chuyển giao các chứng cứ, người phạm tội, người bị hại và người tham gia tố tụng khác giữa các nước.
Chương 2 của Phần thứ tám, Hoạt động hợp tác quốc tế, quy định về các hoạt động hợp tác quốc tế cụ thể trong tố tụng hình sự, bao gồm việc áp dụng các quy định về hợp tác quốc tế, việc chuyển giao các chứng cứ, người phạm tội, người bị hại và người tham gia tố tụng khác, và việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.
Phần thứ chín của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều khoản thi hành, bao gồm hai Điều 509 và 510, quy định về các vấn đề liên quan đến thi hành quyết định, bản án và hợp đồng trong tố tụng hình sự.
Theo quy định tại Điều 509, quyết định, bản án và hợp đồng trong tố tụng hình sự phải được thi hành ngay sau khi có hiệu lực pháp lý, trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều này. Quyết định, bản án và hợp đồng trong tố tụng hình sự phải được thi hành đúng theo nội dung và phạm vi của quyết định, bản án và hợp đồng đã được ban hành.
Theo quy định tại Điều 510, người thi hành quyết định, bản án và hợp đồng trong tố tụng hình sự có nghĩa vụ phải thi hành quyết định, bản án và hợp đồng ngay sau khi có hiệu lực pháp lý, trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều này. Người thi hành quyết định, bản án và hợp đồng trong tố tụng hình sự phải chịu trách nhiệm về thi hành quyết định, bản án và hợp đồng, bao gồm cả trách nhiệm về thi hành quyết định, bản án và hợp đồng đúng theo nội dung và phạm vi của quyết định, bản án và hợp đồng đã được ban hành.
GGL:
Note: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là văn bản pháp lý mới nhất và còn hiệu lực, được sử dụng để giải thích và triển khai các quy định về tố tụng hình sự.

