Cơ quan Việt Nam khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng ngoài nước phải tuân thủ quy định pháp lý và thực tiễn đấu thầu quốc tế. Quá trình này bao gồm lập kế hoạch, quản lý chi phí, thanh toán và quyết toán dự án.
Mục lục bài viết
- Quản lý, sử dụng kinh phí thường xuyên của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài như thế nào?
- Lập, quản lý, thanh toán và quyết toán các dự án đầu tư xây dựng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài như thế nào?
- Việc tổ chức thu, nộp ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài diễn ra như thế nào?
- Cấp kinh phí chi ngân sách nhà nước đối với Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài như thế nào?
Quản lý, sử dụng kinh phí thường xuyên của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài như thế nào?
Theo Điều 12 Nghị định 117/2017/NĐ-CP, về quản lý, sử dụng kinh phí thường xuyên của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, Thủ trưởng Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách theo dự toán được giao, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi ngân sách.
Để thực hiện quản lý kinh phí, Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả, trừ các trường hợp sau: khi Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài tại nước có hệ thống tài khoản thanh toán chưa phát triển, đơn vị cung cấp dịch vụ không mở tài khoản ngân hàng; hoặc các khoản chi được phép chi trả bằng tiền mặt theo quy định của Bộ Tài chính.
Cơ quan chủ quản của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài cũng phải thực hiện kiểm soát chi căn cứ trên chứng từ Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài gửi về, đảm bảo đúng quy định.
Về quản lý, thanh toán và quyết toán các dự án đầu tư xây dựng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, phải tuân thủ các quy định tại Nghị định 57/2019/NĐ-CP và Nghị định 123/2020/NĐ-CP. Theo đó, Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải lập kế hoạch, quản lý chi phí, thanh toán và quyết toán dự án, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi ngân sách.
Lập, quản lý, thanh toán và quyết toán các dự án đầu tư xây dựng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài như thế nào?
Theo Điều 13 Nghị định 117/2017/NĐ-CP, về lập, quản lý, thanh toán và quyết toán các dự án đầu tư xây dựng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, việc lập và phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và hàng năm các dự án đầu tư xây dựng ở nước ngoài phải được thực hiện theo quy định của pháp luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn.
Về quản lý về đầu tư xây dựng, Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải thực hiện theo quy định của pháp luật nước sở tại và pháp luật Việt Nam. Nếu có những quy định khác nhau, thì Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải thực hiện theo quy định của pháp luật nước sở tại.
Việc tạm ứng vốn và thanh toán các dự án đầu tư tại nước ngoài phải được thanh toán theo hợp đồng đã ký kết, phù hợp với quy định của pháp luật nước sở tại và các quy định của pháp luật Việt Nam.
Về lựa chọn nhà thầu, Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải thực hiện theo quy định của pháp luật nước sở tại có dự án đầu tư. Tuy nhiên, người ra quyết định đầu tư có thể quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu phù hợp căn cứ vào tính chất đặc thù của từng gói thầu.
Sau khi dự án hoàn thành, Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải quyết toán vốn theo niên độ ngân sách nhà nước hàng năm. Việc thanh toán và quyết toán vốn đầu tư các dự án đầu tư xây dựng của các Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP, về quản lý, thanh toán và quyết toán các dự án đầu tư xây dựng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải được phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và phải được kiểm tra, đánh giá về kỹ thuật, kinh tế, môi trường và an toàn trước khi được phê duyệt. Sau khi phê duyệt, Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải được cấp phép xây dựng và phải thực hiện các thủ tục về thuế, phí và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Theo đó, việc lập, quản lý, thanh toán và quyết toán các dự án đầu tư xây dựng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn, để đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi ngân sách.
Việc tổ chức thu, nộp ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài diễn ra như thế nào?
Theo Điều 10 Nghị định 117/2017/NĐ-CP, về tổ chức thu, nộp ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, việc thu, nộp ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện như sau: Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải tổ chức quản lý và thực hiện thu phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quy định về thuế, phí và lệ phí. Sau khi thu được phí, lệ phí và các khoản thu khác, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải hạch toán toàn bộ số tiền thu vào Quỹ Tạm giữ ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Trong quá trình thu, nộp ngân sách nhà nước, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải định kỳ hàng tháng, quý, năm báo cáo số dư Quỹ Tạm giữ ngân sách nhà nước để Bộ Ngoại giao tổng hợp, gửi Bộ Tài chính. Ngoài ra, việc quản lý, sử dụng Quỹ Tạm giữ ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài do Bộ Tài chính hướng dẫn.
Theo đó, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải tuân thủ các quy định về thu, nộp ngân sách nhà nước, hạch toán số tiền thu và báo cáo định kỳ số dư Quỹ Tạm giữ ngân sách nhà nước để đảm bảo minh bạch, hiệu quả và đúng quy định.
Cấp kinh phí chi ngân sách nhà nước đối với Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài như thế nào?
Theo Điều 11 Nghị định 117/2017/NĐ-CP, về cấp kinh phí chi ngân sách nhà nước đối với Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, quá trình cấp kinh phí chi ngân sách nhà nước được thực hiện như sau: Cơ quan chủ quản của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài phải căn cứ vào dự toán chi ngân sách được giao của từng Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài và số dư Quỹ Tạm giữ ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện chuyển kinh phí cho các Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
Cơ quan chủ quản phải đảm bảo đủ kinh phí cho các Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài theo dự toán, bằng tiền đô la Mỹ, theo tỷ giá hạch toán do Bộ Tài chính quy định tại thời điểm cấp kinh phí. Điều này意味 rằng, khi cấp kinh phí chi ngân sách nhà nước, Cơ quan chủ quản phải căn cứ vào số dư Quỹ Tạm giữ ngân sách nhà nước tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và dự toán chi ngân sách được giao của từng Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài để đảm bảo kinh phí được cấp là hợp lý và phù hợp với nhu cầu của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
Theo đó, Cơ quan chủ quản phải đảm bảo rằng kinh phí được cấp cho các Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài là đủ và hợp lý, và phải tuân thủ các quy định về tỷ giá hạch toán và quản lý kinh phí chi ngân sách nhà nước.

