Tạm ứng hợp đồng cho nhà thầu là việc thỏa thuận về việc tạm thời ứng tiền cho nhà thầu khi họ thực hiện hợp đồng. Theo quy định pháp luật, tạm ứng hợp đồng phải được thực hiện trong khuôn khổ hợp đồng và phải được ghi nhận trong hợp đồng.
Về vấn đề điều chỉnh giá và khối lượng của hợp đồng với nhà thầu, có thể được thực hiện nhưng phải tuân thủ các quy định pháp luật và phải được thỏa thuận trước với nhà thầu.
Mục lục bài viết
Tạm ứng hợp đồng trong hợp đồng đấu thầu theo quy định pháp luật là gì?
Tạm ứng hợp đồng trong hợp đồng đấu thầu là khoản kinh phí được ứng trước cho nhà thầu để triển khai thực hiện các công việc theo hợp đồng, được quy định tại Điều 92 Nghị định 63/2014/NĐ-CP. Theo đó, tạm ứng hợp đồng là một biện pháp tài chính giúp nhà thầu có thể triển khai công việc ngay từ ban đầu, đồng thời giúp cơ quan chủ quản kiểm soát và quản lý kinh phí một cách hiệu quả.
Theo quy định, trong hợp đồng phải nêu rõ về mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng, bảo lãnh tạm ứng, thu hồi tạm ứng; trách nhiệm của các bên trong việc quản lý, sử dụng kinh phí tạm ứng; thu giá trị của bảo lãnh tạm ứng trong trường hợp sử dụng kinh phí tạm ứng không đúng mục đích. Nhà thầu phải chịu trách nhiệm quản lý việc sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả. Nghiêm cấm việc tạm ứng mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích.
Đối với việc sản xuất các cấu kiện, bán thành phẩm có giá trị lớn, một số vật liệu phải dự trữ theo mùa, trong hợp đồng phải nêu rõ về kế hoạch tạm ứng và mức tạm ứng để bảo đảm tiến độ thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra, Điều 91 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định về việc sử dụng đồng tiền thanh toán và hình thức thanh toán hợp đồng với nhà thầu. Tuy nhiên, chưa có quy định rõ ràng về vấn đề điều chỉnh giá và khối lượng của hợp đồng với nhà thầu. Do đó, trong trường hợp cần thiết, các bên phải thống nhất và ghi rõ trong hợp đồng về vấn đề này.
Hợp đồng với nhà thầu được ký kết dựa trên nguyên tắc nào?
Hợp đồng với nhà thầu được ký kết dựa trên nguyên tắc pháp lý và được quy định cụ thể tại Điều 89 của Nghị định 63/2014/NĐ-CP. Theo đó, hợp đồng được ký kết giữa các bên là hợp đồng dân sự, được thỏa thuận bằng văn bản để xác lập trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện toàn bộ phạm vi công việc thuộc hợp đồng.
Hợp đồng phải được lập theo mẫu quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, đồng thời phù hợp với kết quả thương thảo hợp đồng, kết quả lựa chọn nhà thầu trên cơ sở yêu cầu của gói thầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành. Điều này đảm bảo rằng nội dung của hợp đồng được rõ ràng, chi tiết và phù hợp với quy định của pháp luật.
Trước khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận việc sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nội dung liên quan đến việc sử dụng trọng tài phải được quy định cụ thể trong hợp đồng, đảm bảo rằng các bên đều hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong trường hợp xảy ra tranh chấp.
Như vậy, hợp đồng với nhà thầu phải được ký kết trên cơ sở pháp lý, được lập rõ ràng và được thỏa thuận giữa các bên. Điều này đảm bảo rằng hợp đồng được thực hiện trong khuôn khổ pháp lý và được giải quyết các tranh chấp một cách công bằng và hiệu quả.
Có được phép điều chỉnh giá và khối Iượng của hợp đồng với nhà thầu không?
Có được phép điều chỉnh giá và khối lượng của hợp đồng với nhà thầu không? Theo quy định tại Điều 93 của Nghị định 63/2020/NĐ-CP (Nghị định mới nhất về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng) có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020, các bên có thể điều chỉnh đơn giá và khối lượng công việc trong hợp đồng đấu thầu. Tuy nhiên, điều chỉnh giá hợp đồng phải được quy định rõ trong hợp đồng về nội dung điều chỉnh, nguyên tắc và thời gian tính điều chỉnh, cơ sở dữ liệu đầu vào để tính điều chỉnh.
Trong quy định này, Nghị định 63/2020/NĐ-CP cho phép các bên điều chỉnh giá và khối lượng công việc trong hợp đồng đấu thầu để phù hợp với thực tế thi công, đảm bảo hiệu quả và bền vững của công trình. Cùng với đó, Nghị định này cũng quy định rõ ràng về nguyên tắc và thủ tục điều chỉnh giá hợp đồng, giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình điều chỉnh giá hợp đồng.

