Theo Luật Đầu tư, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư được quy định rõ ràng. Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư bao gồm Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội. Tôi hy vọng sẽ được giải đáp thắc mắc của bạn về vấn đề này. Xin cảm ơn!

Thế nào là chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công?

Theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2019, chủ trương đầu tư là quyết định cơ bản về việc thực hiện một dự án đầu tư công, bao gồm xác định mục tiêu, nội dung, công nghệ, tiến độ, nguồn lực và kinh phí của dự án. Chủ trương đầu tư là cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện dự án, và phải được phê duyệt bởi người có thẩm quyền theo quy định của Luật Đầu tư công.

Cụ thể, khoản 7 Điều 4 Luật Đầu tư công 2019 quy định: “Chủ trương đầu tư là quyết định của người có thẩm quyền về việc thực hiện dự án đầu tư công, bao gồm các nội dung sau: mục tiêu, nội dung, công nghệ, tiến độ, nguồn lực, kinh phí của dự án…”.

Trong đó, người có thẩm quyền có thể là Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hoặc người được giao nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Đầu tư công. Chủ trương đầu tư phải được công bố công khai và phải được phê duyệt trước khi triển khai thực hiện dự án.

Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án thuộc về ai?

Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án thuộc về:

* Quốc hội: Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án sau đây: chương trình mục tiêu quốc gia; dự án quan trọng quốc gia.
* Chính phủ: Quyết định chủ trương đầu tư chương trình đầu tư công sử dụng vốn ngân sách trung ương, trừ chương trình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Luật Đầu tư công 2019.
* Thủ tướng Chính phủ: Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án sau đây: dự án quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật này; dự án nhóm A khác sử dụng vốn ngân sách trung ương do Bộ, cơ quan trung ương quản lý; chương trình, dự án đầu tư nhóm A sử dụng vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, trừ chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình đầu tư công quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 17 Luật Đầu tư công 2019.
* Người đứng đầu Bộ, cơ quan trung ương: Quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn đầu tư công do cơ quan, tổ chức mình quản lý, trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Đầu tư công 2019.
* Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Đầu tư công 2019. Quan hệ với các dự án do địa phương quản lý, trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Đầu tư công 2019. Quan hệ với chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, các nguồn vốn hợp pháp của địa phương thuộc cấp mình quản lý, trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Đầu tư công 2019.

Theo đó, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án được quy định rõ ràng và khác nhau tùy thuộc vào loại chương trình, dự án và nguồn vốn sử dụng.

Điều kiện quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án như thế nào?

Điều kiện quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án là những yêu cầu bắt buộc phải được đáp ứng trước khi quyết định đầu tư vào một chương trình, dự án. Theo Điều 18 Luật Đầu tư công 2019, điều kiện quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án phải đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, chương trình, dự án phải phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.

Thứ hai, chương trình, dự án không được trùng lặp với các chương trình, dự án đã có quyết định chủ trương đầu tư hoặc đã có quyết định đầu tư.

Thứ ba, chương trình, dự án phải phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư công và khả năng huy động các nguồn vốn khác đối với chương trình, dự án sử dụng nhiều nguồn vốn.

Thứ tư, chương trình, dự án phải phù hợp với khả năng vay, trả nợ công, nợ Chính phủ và nợ chính quyền địa phương.

Thứ năm, chương trình, dự án phải bảo đảm hiệu quả kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

Ngoài ra, có một số nhiệm vụ, dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư, bao gồm nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch, dự án đầu tư công khẩn cấp, dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia và dự án thành phần thuộc dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.

Tóm lại, các điều kiện quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án là những yêu cầu bắt buộc phải được đáp ứng để đảm bảo hiệu quả và tính pháp lý của chương trình, dự án.

Đăng ký với GGL AI

Quý khách cần thêm thông tin có thể hỏi trực tiếp từ GGL AI hoặc đăng ký email bên cạnh

Vui lòng xem  đọc qui đình tại Chính Sách Quyền Riêng Tư