Theo quy định của pháp luật, mẫu thông báo số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm là mẫu số 05A/TCT. Số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm trong trường hợp người nộp thuế đã nộp tiền thuế quá hạn nhưng sau đó được cơ quan thuế giảm trừ tiền phạt và tiền chậm nộp. Người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp thuế khi nộp tờ khai thuế sau khi hết thời hạn nộp thuế.
Mục lục bài viết
Mẫu thông báo số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm là mẫu nào?
Theo quy định tại Thông tư 80/2021/TT-BTC, số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm là số tiền thuế chậm nộp được giảm trừ theo quy định của pháp luật. Mẫu thông báo số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm là Mẫu số 03/TTN, được ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC.
Theo quy định tại Mẫu số 03/TTN, số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm trong trường hợp người nộp thuế đã nộp tiền thuế quá hạn nhưng sau đó được cơ quan thuế giảm trừ tiền phạt và tiền chậm nộp. Ngoài ra, số tiền chậm nộp thuế cũng được điều chỉnh giảm trong trường hợp người nộp thuế đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và được cơ quan thuế xác nhận.
Để được điều chỉnh giảm số tiền chậm nộp thuế, người nộp thuế phải nộp tờ khai thuế sau khi hết thời hạn nộp thuế, kèm theo các giấy tờ chứng minh về thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và các chứng từ khác có liên quan. Sau khi xét duyệt, cơ quan thuế sẽ quyết định việc điều chỉnh giảm số tiền chậm nộp thuế dựa trên các quy định của pháp luật và các trường hợp cụ thể.
Tóm lại, Mẫu số 03/TTN là mẫu thông báo số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm, được ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC. Số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm trong trường hợp người nộp thuế đã nộp tiền thuế quá hạn, đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và được cơ quan thuế xác nhận.
Trong trường hợp nào thì số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Thông tư 80/2021/TT-BTC, số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp. Khi người nộp thuế có phát hiện sai sót trong hồ sơ khai thuế và đã nộp thuế đúng số tiền thuế phải nộp, nhưng sau đó đã khai bổ sung và được cơ quan thuế chấp nhận, thì số tiền chậm nộp thuế sẽ được điều chỉnh giảm. Đây là trường hợp người nộp thuế đã nộp thuế quá hạn, nhưng sau đó đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và được cơ quan thuế xác nhận.
Thứ hai, trường hợp cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua thanh tra, kiểm tra phát hiện số tiền thuế phải nộp giảm hoặc cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định, thông báo giảm số tiền thuế phải nộp. Trong trường hợp này, cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phát hiện sai sót trong hồ sơ khai thuế, hoặc đã quyết định, thông báo giảm số tiền thuế phải nộp, thì số tiền chậm nộp thuế sẽ được điều chỉnh giảm. Đây là trường hợp cơ quan thuế hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phát hiện sai sót trong hồ sơ khai thuế và đã quyết định giảm số tiền thuế phải nộp.
Tóm lại, số tiền chậm nộp thuế được điều chỉnh giảm trong hai trường hợp: người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp, và cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua thanh tra, kiểm tra phát hiện số tiền thuế phải nộp giảm hoặc có quyết định, thông báo giảm số tiền thuế phải nộp.
Người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp thuế trong trường hợp nào?
Theo quy định tại Điều 59 Luật Quản lý thuế 2019, người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp thuế trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định ấn định thuế hoặc quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế.
Thứ hai, người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm tăng số tiền thuế phải nộp hoặc cơ quan quản lý thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra phát hiện khai thiếu số tiền thuế phải nộp thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế phải nộp tăng thêm kể từ ngày kế tiếp ngày cuối cùng thời hạn nộp thuế của kỳ tính thuế có sai, sót hoặc kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế của tờ khai hải quan ban đầu.
Thứ ba, người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm giảm số tiền thuế đã được hoàn trả hoặc cơ quan quản lý thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra phát hiện số tiền thuế được hoàn nhỏ hơn số tiền thuế đã hoàn thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế đã hoàn trả phải thu hồi kể từ ngày nhận được tiền hoàn trả từ ngân sách nhà nước.
Thứ tư, trường hợp được nộp dần tiền thuế nợ quy định tại khoản 5 Điều 124 Luật Quản lý thuế 2019.
Thứ năm, trường hợp không bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế do hết thời hiệu xử phạt nhưng bị truy thu số tiền thuế thiếu quy định tại khoản 3 Điều 137 Luật Quản lý thuế 2019.
Thứ sáu, trường hợp không bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hành vi quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 142 Luật Quản lý thuế 2019.
Thứ bảy, cơ quan, tổ chức được cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu thuế chậm chuyển tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế vào ngân sách nhà nước thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chậm chuyển theo quy định.
Theo đó, mức tính tiền chậm nộp và thời gian tính tiền chậm nộp được quy định như sau: (1) Mức tính tiền chậm nộp bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp; (2) Thời gian tính tiền chậm nộp được tính liên tục kể từ ngày tiếp theo ngày phát sinh tiền chậm nộp quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật Quản lý thuế 2019 đến ngày liền kề trước ngày số tiền nợ thuế, tiền thu hồi hoàn thuế, tiền thuế tăng thêm, tiền thuế ấn định, tiền thuế chậm chuyển đã nộp vào ngân sách nhà nước.
Lưu ý, trong những trường hợp sau đây thì không phải nộp tiền chậm nộp: người nộp thuế cung ứng hàng hóa, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, bao gồm cả nhà thầu phụ được quy định trong hợp đồng ký với chủ đầu tư và được chủ đầu tư trực tiếp thanh toán nhưng chưa được thanh toán; các trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 55 của Luật Quản lý thuế 2019 thì không tính tiền chậm nộp trong thời gian chờ kết quả phân tích, giám định; trong thời gian chưa có giá chính thức; trong thời gian chưa xác định được khoản thực thanh toán, các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan.

