Chuẩn hóa nội dung:
Trước khi chấp thuận chủ trương đầu tư, phải có văn bản cho phép nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Tuy nhiên, Điều 73 Luật Đất đai cho phép chủ đầu tư thỏa thuận nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất sau khi xác định chủ đầu tư và chấp thuận chủ trương đầu tư. Vì vậy, có mâu thuẫn giữa khoản 5 Điều 29 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP và Điều 73 Luật Đất đai.
Mục lục bài viết
- Chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư như thế nào?
- Điều kiện nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp?
- Sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh
Chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư như thế nào?
Chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư phải được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị định 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư. Theo đó, các dự án đầu tư quy định tại khoản 4 Điều 29 Luật Đầu tư và các dự án không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này, cơ quan chấp thuận chủ trương đầu tư sẽ xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư, không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
Theo quy định, các trường hợp được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư bao gồm:
* Nhà đầu tư có quyền sử dụng đất là nhà đầu tư đang sử dụng đất do được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc do nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, và khu vực đất do nhà đầu tư đang sử dụng không thuộc Danh mục dự án cần thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua.
* Nhà đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai.
* Nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao.
* Các dự án không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này.
* Trường hợp khác không thuộc diện đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đất đai, đấu thầu và pháp luật có liên quan.
Tóm lại, chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư phải được thực hiện dựa trên các quy định về pháp luật đất đai và pháp luật có liên quan, với các trường hợp được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trong các trường hợp nêu trên.
Điều kiện nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp?
Điều kiện nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp được quy định tại Điều 193 Luật Đất đai năm 2021. Theo quy định, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân chỉ được nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án.
Thứ hai, mục đích sử dụng đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ ba, đối với đất chuyên trồng lúa nước, phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 134 của Luật Đất đai năm 2021.
Sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh
Sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh là một hình thức được pháp luật Việt Nam công nhận và quy định. Theo Điều 73 Luật Đất đai 2013, việc sử dụng đất này phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi về việc sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Theo Công văn 2541/CV-TCT ngày 18/4/2022, Điều 29 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP quy định về việc “cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai”.
Theo đó, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp khi có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án.
Quy định tại điểm b khoản 5 Điều 29 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP là hoàn toàn phù hợp với Điều 193 Luật Đất đai và không mâu thuẫn với Điều 73 Luật Đất đai. Do đó, việc sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp phải tuân thủ các quy định này và phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

