Trong lựa chọn nhà thầu, trượt giá hợp đồng được xác định theo các phương pháp như giá trị sản lượng, giá trị chỉ số và phương pháp đặc biệt. Thanh toán hợp đồng được quy định tại Điều 18.5 E-CDNT, trong đó nhà thầu phải nộp bảo đảm dự thầu cho toàn bộ phần thầu hoặc từng phần. Nguyên tắc thanh toán hợp đồng theo thời gian được quy định tại Điều 18.6 E-CDNT.
Mục lục bài viết
- Trượt giá hợp đồng trong lựa chọn nhà thầu do lạm phát, giảm phát được xác định theo các phương pháp nào?
- Thanh toán hợp đồng trong hoạt động lựa chọn nhà thầu được quy định như thế nào?
- Nguyên tắc thanh toán đối với hợp đồng theo thời gian trong hoạt động lựa chọn nhà thầu được quy định như thế nào?
Trượt giá hợp đồng trong lựa chọn nhà thầu do lạm phát, giảm phát được xác định theo các phương pháp nào?
Trượt giá hợp đồng trong lựa chọn nhà thầu do lạm phát, giảm phát được quy định tại khoản 3 Điều 107 Nghị định 24/2024/NĐ-CP. Theo đó, trượt giá hợp đồng được xác định theo hai phương pháp chính: phương pháp bù trừ trực tiếp và phương pháp điều chỉnh bằng công thức điều chỉnh.
Phương pháp bù trừ trực tiếp được áp dụng khi có sự thay đổi về giá cả của các nguyên liệu, thiết bị, lao động, v.v… trong quá trình thực hiện hợp đồng. Phương pháp điều chỉnh bằng công thức điều chỉnh được áp dụng khi có sự thay đổi về tỷ giá hối đoái, lạm phát, giảm phát, v.v… trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Chỉ số giá để làm cơ sở tính trượt giá được xác định theo quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và nội dung thương thảo hợp đồng (nếu có), hoàn thiện hợp đồng. Nguồn chỉ số có thể quy định áp dụng theo chỉ số giá do Tổng cục Thống kê Việt Nam công bố hoặc chỉ số giá xây dựng do Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố. Đối với nội dung chi phí tính điều chỉnh trượt giá có nguồn gốc từ nước ngoài, có thể quy định áp dụng chỉ số giá được cơ quan thống kê độc lập nơi phát sinh chi phí ở nước ngoài công bố.
Việc xác định phương pháp, công thức tính điều chỉnh giá phải dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp tính chất của gói thầu và quy định cụ thể về quản lý rủi ro trượt giá trong hợp đồng. Chủ đầu tư có thể vận dụng các công thức điều chỉnh đang áp dụng rộng rãi trên thị trường quốc tế bao gồm các mẫu quy định của Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn (FIDIC), hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và các mẫu khác. Ngoài ra, phương pháp điều chỉnh ngoài quy định tại điểm a và điểm b khoản này cũng được phép áp dụng theo quy định của pháp luật.
Thanh toán hợp đồng trong hoạt động lựa chọn nhà thầu được quy định như thế nào?
Thanh toán hợp đồng trong hoạt động lựa chọn nhà thầu được quy định tại Điều 111 Nghị định 24/2024/NĐ-CP. Theo đó, thanh toán hợp đồng được thực hiện trên cơ sở giá hợp đồng và các điều khoản cụ thể về thanh toán được ghi trong hợp đồng.
Theo quy định, việc thanh toán không căn cứ vào dự toán và các quy định, hướng dẫn hiện hành của Nhà nước về định mức, đơn giá. Mặt khác, thanh toán cũng không căn cứ vào đơn giá trong hóa đơn tài chính đối với các yếu tố đầu vào của nhà thầu, bao gồm vật tư, máy móc, thiết bị và các yếu tố đầu vào khác.
Trong trường hợp có nhiều loại hợp đồng khác nhau trong một hợp đồng, việc thanh toán sẽ được áp dụng nguyên tắc thanh toán tương ứng với từng loại hợp đồng, theo quy định tại Điều 112 Nghị định 24/2024/NĐ-CP. Điều này nhằm đảm bảo tính thống nhất và hợp lý trong quá trình thanh toán hợp đồng.
Nguyên tắc thanh toán đối với hợp đồng theo thời gian trong hoạt động lựa chọn nhà thầu được quy định như thế nào?
Nguyên tắc thanh toán đối với hợp đồng theo thời gian trong hoạt động lựa chọn nhà thầu được quy định tại khoản 4 Điều 112 Nghị định 24/2024/NĐ-CP. Theo đó, thanh toán thù lao cho chuyên gia được thực hiện trên cơ sở lương của chuyên gia và các chi phí liên quan đến lương, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nghỉ lễ, nghỉ tết, chi phí quản lý của nhà thầu (nếu có).
Chi phí liên quan bao gồm chi phí đi lại, khảo sát, thuê văn phòng làm việc, thông tin liên lạc và các chi phí khác, sẽ được thanh toán theo phương thức quy định trong hợp đồng. Đối với mỗi khoản chi phí này, hợp đồng cần quy định rõ phương thức thanh toán, có thể là thanh toán theo thực tế dựa vào hóa đơn, chứng từ hợp lệ do nhà thầu xuất trình hoặc thanh toán trên cơ sở đơn giá thỏa thuận trong hợp đồng.
Theo quy định, các khoản chi phí liên quan được xác định trừ các chi phí lương của chuyên gia, chi phí công việc khác áp dụng đơn giá theo đơn vị thời gian quy định tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều 112 Nghị định 24/2024/NĐ-CP.
Trong trường hợp hợp đồng bị chấm dứt (hủy bỏ) theo quy định của pháp luật, các bên có thể thỏa thuận về việc hợp đồng tự động hết hiệu lực khi hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký hoặc ký kết biên bản thanh lý hợp đồng. Biên bản thanh lý hợp đồng có thể được lập riêng hoặc như một phần của biên bản nghiệm thu đợt cuối cùng hoặc biên bản thống nhất chấm dứt hợp đồng với nội dung phù hợp với trách nhiệm các bên đã quy định trong hợp đồng.
Việc thanh lý hợp đồng phải được thực hiện trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày các bên hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký hoặc trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày hợp đồng bị chấm dứt (hủy bỏ) theo quy định của pháp luật và không quá 90 ngày đối với những hợp đồng có quy mô lớn, phức tạp.

